Chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản: Niềm tự hào của quân và dân Phú Thọ

Hà Nội (TTXVN 16/11/2012) Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Thọ là nơi có địa bàn chiến lược quan trọng nên vừa bị địch chiếm đóng, vừa là tỉnh cung cấp nhân tài, vật lực rất lớn cho các chiến dịch so với các tỉnh khác trong liên khu Việt Bắc. Vì vậy, quân Pháp đã nhiều lần tấn công ra vùng tự do của tỉnh phá hoại hậu phương kháng chiến. Song, Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân toàn tỉnh đã dũng cảm chiến đấu, góp phần đánh bại nhiều trận tấn công, càn quét của địch trên địa bàn, góp phần vào chiến công chung của cả nước, trong đó lớn nhất, vẻ vang nhất là chiến thắng Chân Mộng-Trạm Thản, ngày 17/11/1952.

Sau thất bại nặng ở chiến dịch Hòa Bình (cuối năm 1951), được đế quốc Mỹ viện trợ trên 100 tỷ Franc cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại (máy bay, xe tăng, tầu thuyền, pháo 105 ly...), thực dân Pháp tăng ngụy quân, lập thêm các binh đoàn cơ động mạnh G.M (Groupement mobile), nâng tổng quân số lên 34 vạn tên trong đó có 90 tiểu đoàn Âu-Phi làm nòng cốt; đồng thời tăng cường càn quét ở trung du, đồng bằng, gây cho ta nhiều khó khăn.

Về phía ta, với những thắng lợi đã đạt được trước đó, lực lượng vũ trang của ta đã mạnh lên rất nhiều cả về kỹ thuật, chiến thuật tác chiến; từ các binh đoàn chủ lực tới bộ đội địa phương, dân quân du kích được bổ xung, huấn luyện, chỉnh quân chính trị, quyết tâm thực hiện tốt những yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. Tháng 9-1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc, với quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng miền Tây Bắc, nơi đất rộng người thưa, cư dân hầu hết thuộc đồng bào các dân tộc ít người, đời sống còn thấp kém do bị bóc lột nặng nề. Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng: phía tây là biên giới Việt-Lào, phía đông giáp căn cứ địa Việt Bắc, phía bắc tiếp giáp biên giới Việt-Trung, phía nam là tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và các tỉnh liên khu 3, liên khu 4. Từ đây địch có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc, vùng tự do Phú Thọ và che trở cho Thượng Lào, thực hiện âm mưu chiếm đóng lâu dài, lập nên “ xứ Thái tự trị” để chia rẽ bóc lột đồng bào ta. Đợt I chiến dịch Tây Bắc bắt đầu từ ngày 14 đến ngày 24-10-1952 đã kết thúc thắng lợi. Quân ta đã tiêu diệt quân khu Nghĩa Lộ. Đập tan tuyến phòng thủ vành đai ngoài Tây Bắc của địch. Ta hoàn toàn làm chủ con đường 13 nối liền thị xã Yên Bái với Nghĩa Lộ.

Trong lúc chúng ta tích cực chuẩn bị cho đợt II chiến dịch, thì Pháp vội vã tăng cường cho Tây Bắc tới 7 tiểu đoàn hòng củng cố phòng tuyến Sơn La-Lai Châu; đồng thời, mở cuộc hành quân Loren với một binh lực lớn đánh lên Phú Thọ, nhằm phân tán chủ lực ta, quấy rối và phá hoại hậu phương trực tiếp của chiến dịch, hy vọng cứu vãn tình thế hết sức nguy ngập của chúng ở Tây Bắc Phán đoán được âm mưu của thực dân Pháp, ngay từ tháng 9-1952, Tổng quân ủy đã ra Chỉ thị cho Tỉnh ủy Phú Thọ nêu rõ: “Trong khi chủ lực ta đánh mạnh trên các chiến trường chính thì địch sẽ đối phó bằng cách tấn công ra Phú Thọ để kiềm chế, chia sẻ lực lượng ta, đồng thời phá hoại kinh tế, kho tàng, mùa màng của ta, khủng bố nhân dân bắt thanh niên đi lính. Tóm lại chúng nhằm phá hoại nguồn cung cấp nhân, vật lực của ta, gây khó khăn cho tiền tuyến. Vì vậy, nhiệm vụ của Đảng bộ và các lực lượng vũ trang là phải tích cực đánh địch bằng mọi cách để bảo vệ kho tàng, mùa màng, bảo vệ nhân dân”. Ngày 28-10-1952, Bộ chỉ huy Pháp mở cuộc hành quân Loren, do tướng Đờ Linarét (De linares), tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy. Chúng huy động một lực lượng lớn gồm: 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn xung kích, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh. Sau khi chốt một số cứ điểm ở hữu ngạn sông Thao, ngày 02-11-1952 địch bắt đầu tiến công sang tả ngạn, đánh chiếm thị xã Phú Thọ, rải quân chiếm giữ quốc lộ 2 và các tuyến đường giao thông (Phú Thọ - Phú Hộ; Ngọc Tháp-Gò Gai; Cao Mại-Tiên Kiên-Phù Lỗ; Phú Hộ-Việt Trì...).

Ở những vị trí đã chiếm, chúng cho xây dựng công sự móc nối với bọn phản động địa phương tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, đồng thời ra sức càn quét làng mạc, cướp bóc, làm thiệt hại nhiều tài sản của Nhà nước và nhân dân ta. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên và sự chuẩn bị chu đáo của Đảng bộ nên mặc dù địch có lực lượng lớn, thủ đoạn thâm độc nhưng các lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ đã chiến đấu ngoan cường, bẻ gãy nhiều mũi tiến công của địch. Trong suốt chiến dịch, quân dân Phú Thọ đã sát cánh cùng bộ đội chủ lực đánh nhiều trận hợp đồng thắng lợi giòn rã, đặc biệt đã phối hợp với binh đoàn 176 đánh 104 trận lớn nhỏ. Chỉ riêng ở hữu ngạn sông Thao, từ ngày 28-10 đến ngày 07-11-1952 bộ đội địa phương và dân quân du kích của tỉnh đã đánh 73 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 712 tên, bắt sống gần 100 tên, thu nhiều vũ khí và quân trang, quân dụng của địch. Nhiều đơn vị đã lập công xuất sắc, tiêu biểu như: bộ đội địa phương và quân dân du kích huyện Tam Nông đã đánh 19 trận, giết 78 tên và làm bị thương 30 tên; quân dân huyện Hạc Trì đánh 27 trận tiêu điệt và làm bị thương 160 tên, giải phóng 300 thanh niên bị địch bắt, đồng thời bảo vệ nhân dân sơ tán an toàn hàng trăm tấn thóc và hàng hóa của nhà nước… Bị đánh khắp nơi trong khi phải dàn mỏng lực lượng trên một chiến tuyến đài 80km, khó khăn về cung cấp hậu cần và liên lạc. Quân số hao hụt dần, tinh thần binh lính mệt mỏi, địch buộc phải kết thúc trận càn sớm hơn dự định. Dự đoán trước việc rút quân của chúng, ngày 9-11-1952, Bộ Tổng Tư lệnh điều Trung đoàn Bắc-Bắc (Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn Quân tiên phong 308) từ chiến trường Tây Bắc về Phú Thọ, cùng quân và dân địa phương chặn đánh địch.

Trên cơ sở phân tích tình hình, ban chỉ huy mặt trận Phú Thọ cùng Ban chỉ huy Trung đoàn Bắc-Bắc (Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn Quân tiên phong 308) từ chiến trường Tây Bắc về Phú Thọ, cùng quân và dân địa phương chặn đánh địch. Trên cơ sở phân tích tình hình, Ban Chỉ huy mặt trận Phú Thọ cùng Ban Chỉ huy trung đoàn Bắc-Bắc quyết định tổ chức trận phục kích táo bạo trên đường quốc lộ 2, đoạn Chân Mộng-Trạm Thản (thuộc địa phận giáp ranh huyện Đoan Hùng-Phù Ninh-Thanh Ba). Được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, các đơn vị chủ lực đã lận lượt vào chiếm lĩnh trận địa theo đúng kế hoạch đã định. Sáng 17-11-1952, đúng như dự kiến đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Các chiến sỹ Trung đoàn 36 và lực lượng vũ trang địa phương anh dũng xông lên, chụp lửa xuống đoàn xe địch. Cuộc hành quân của chúng bị cắt làm đôi, số địch đi đầu thoát chạy thẳng về Phú Hộ. Số còn lại nằm gọn trong tầm bắn của bộ đội ta. Máy bay lồng lộn gầm rú nhưng chỉ dám bắn xa đường vì sợ bắn nhầm vào quân của chúng… Sau 20 phút chiến đấu, 21 xe cơ giới của địch bị bốc cháy cùng hàng trăm tên xâm lược bị đền tội. Với phương châm đánh nhanh diệt gọn, quân ta tiếp tục truy kích diệt thêm 13 xe nữa. Kết quả sau một ngày chiến đấu, ta tiêu diệt hơn 400 tên địch, phá hủy 44 xe cơ giới, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu tiền quân trang, quân dụng địch. Đây là trận đánh phá hủy được nhiều xe cơ giới nhất ở Đông Dương kể từ ngày đầu cuộc kháng chiến. Sau trận Chân Mộng-Trạm Thản, lực lượng của ta được củng cố rồi tiến theo quốc lộ 2 truy đuổi địch ở vùng Phú Hộ, núi Voi, núi Chò, núi Quyết… tiêu diệt 108 tên, bắt sống 7 tên, đưa tổng số quân địch bị tiêu diệt và bị bắt lên đến hơn 600 tên. Bị thiệt hại nặng nề, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho tướng Đờ Linarét kết thúc cuộc hành quân Loren, rút lực lượng về đối phó với mặt trận đồng bằng và Tây Bắc. Ngày 25-11-1952, quân Phát rút khỏi Phú Thọ. Chiến thắng Chân Mộng-Trạm Thản đã đi vào lịch sử oai hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lịch sử Đại đoàn Quân tiên phong nói riêng, trong đó có sự đóng góp tích cực của quân và dân Phú Thọ. Phá vỡ âm mưu tìm diệt chủ lực và phá hoại hậu phương kháng chiến của thực dân Pháp, góp phần quan trọng vào thắng lợi thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Tây Bắc, đánh dấu sự phát triển, thế chủ động chiến lực, để tiến tới giành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược./.

Đàm Trung (tổng hợp)