1. Mộc bản triều Nguyễn (Di sản tư liệu thế giới năm 2009)
Mộc bản được hình thành chủ yếu bằng kỹ thuật khắc ngược ký tự Hán Nôm trên gỗ để in ra sách được sử dụng phổ biến trong thời kỳ phong kiến
Được công nhận năm 2009, Mộc bản triều Nguyễn là Di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, gồm 34.555 tấm mộc bản, là “chế bản” của 152 đầu sách với nhiều chủ đề khác nhau, như: lịch sử, địa lý, chính trị-xã hội, quân sự, pháp chế, giáo dục, văn thơ... Nội dung của khối tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn rất phong phú và đa dạng, phản ánh mọi mặt xã hội Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, như: lịch sử, địa lý, chính trị-xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa-giáo dục, tôn giáo-tư tưởng-triết học, văn thơ, ngôn ngữ-văn tự.
2. Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2010; Di sản tư liệu thế giới năm 2011)
Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Từ Giám
82 bia tiến sĩ tương ứng với 82 khoa thi (từ năm 1484-1780), ghi tên các vị đỗ đại khoa tại các khoa thi, là những bản tư liệu gốc duy nhất còn lại, được coi là một trong những di sản văn hóa vô giá của cha ông để lại cho chúng ta ngày nay. Chúng là những tư liệu chân thực phản ánh bức tranh sinh động về chế độ đào tạo và tuyển dụng nhân tài ở Việt Nam kéo dài hơn 300 năm dưới thời Lê-Mạc, đồng thời là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, phản ánh nghệ thuật điêu khắc của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Mỗi bài ký trên bia là một áng văn chương mẫu mực, thể hiện tư tưởng triết học, sử học, những quan điểm về giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài của các triều đại trong lịch sử.
3. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh) (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2012)
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. (Ảnh: Thúy Hà/Vietnam+)
Bộ 3.050 mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2012. Đây là bộ tư liệu bằng chữ Hán và chữ Nôm, gồm 3.050 đơn vị ván khắc, trong đó có 2 bộ kinh phật và luật sa di giới, luận bàn, giải thích về kinh phật và trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng các vị cao tăng thiền phái Trúc Lâm. Giá trị đặc biệt của các mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm ở chỗ tư tưởng, giáo lý của Thiền viện Trúc Lâm được lưu khắc hết sức rõ nét và mang đậm bản sắc dân tộc cùng những giá trị nhân văn sâu sắc được thể hiện công phu trên mỗi mộc bản.
4. Châu bản triều Nguyễn (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2014; Di sản tư liệu thế giới năm 2017)
Châu bản triều Nguyễn được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu (ảnh: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)
Châu bản triều Nguyễn là các tài liệu hành chính của triều Nguyễn - triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam (1802-1945), bao gồm: văn bản của các cơ quan trong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương trình lên nhà vua phê duyệt, văn bản của các vua triều Nguyễn ban hành và một số văn kiện ngoại giao. Đây là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến Việt Nam, lưu giữ bút tích của các vua triều Nguyễn phê duyệt các vấn đề của đất nước.
5. Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2016)
Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2016. Trong ảnh: Các bài thơ được trang trí ở điện Thái Hòa với nội dung là ca ngợi đất nước, nhân dân thái bình và miêu tả cảnh sắc của đất nước. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế gồm 2.742 ô thơ tinh tuyển từ vô số các trước tác của các vị hoàng đế triều Nguyễn, bắt đầu được sử dụng để trang trí trên cung điện, đền miếu, lăng tẩm hoàng gia từ thời Minh Mạng (1820-1841) đến thời Khải Định (1916-1925). Ngoài số lượng đồ sộ, ở đây còn có tính điển hình về phong cách trang trí "nhất thi nhất họa". Theo nhiều nghiên cứu, hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là một nghệ thuật trang trí đặc biệt, là di sản quý, không thấy xuất hiện ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.
6. Mộc bản trường học Phúc Giang (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2016)
Một trang Mộc bản Trường học Phúc Giang. (Ảnh: Hoàng Ngà/TTXVN)
Đây là khối mộc bản duy nhất, cổ nhất về giáo dục của một dòng họ còn lưu giữ được ở Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, tại trường học Phúc Giang, xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh.
Khối mộc bản được khắc chữ Hán ngược để in 3 tập sách giáo khoa kinh điển (gồm 12 quyển): "Tính lý toản yếu đại toàn", "Ngũ kinh toản yếu đại toàn" và "Thư viện quy lệ", được sử dụng liên tục cho việc dạy và học của hàng nghìn thầy giáo và học sinh qua gần 3 thế kỷ (từ thế kỷ XVIII-XX). Mộc bản trường học Phúc Giang là tập tư liệu gốc, duy nhất do các danh nhân dòng họ Nguyễn Huy cùng đội ngũ thợ khắc tạo ra từ giữa thế kỷ 18.
7. Hoàng hoa sứ trình đồ (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2018)
"Hoàng Hoa sứ trình đồ" là cuốn sách miêu tả hoạt động đi sứ của sứ bộ Việt Nam sang Trung Hoa.
"Hoàng Hoa sứ trình đồ" là cuốn sách cổ, miêu tả về việc đi sứ của sứ bộ Việt Nam sang Trung Hoa trong thế kỷ thứ XVIII, thể hiện việc giao lưu giữa các quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. "Hoàng Hoa sứ trình đồ" được UNESCO đánh giá là một hồ sơ quý, hiếm nói về quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đóng góp vào việc duy trì nền hòa bình giữa các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Cuốn sách "Hoàng Hoa sứ trình đồ" được Nguyễn Huy Triển sao lại năm 1887 từ bản gốc của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, hiện đang được dòng họ Nguyễn Huy-Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh lưu giữ. Cuốn sách có kích thước 30cm x 20cm, dày 2cm được in trên bản mộc giấy dó.
8. Bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2022)
Các văn bia khắc trên vách đá và hang động của danh thắng Ngũ Hành Sơn được công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương (ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
78 bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, là kho tàng di sản tư liệu quý giá bằng chữ Hán và chữ Nôm, với nội dung, phong cách biểu hiện đa dạng, hình thức độc đáo, nhiều thể loại, như: ngự bút, bia ký, tán, thơ văn, đề từ, đề danh, câu đối… của các vị vua, quan triều Nguyễn, cao tăng, cùng nhiều thế hệ tao nhân, mặc khách đã từng dừng chân lưu đề trên vách đá, hang động tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, từ nửa đầu thế kỷ XVII đến thập niên 60 của thế kỷ XX.
Bia ma nhai là những tư liệu vô cùng giá trị, chân xác và đặc sắc, thể hiện rõ tính giao thoa, hòa điệu về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia như Nhật Bản-Trung Hoa-Việt Nam tại Việt Nam từ thế kỷ XVII-XX.
9. Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2022)
Tờ sắc phong cho cụ Nguyễn Công Ban (1693), một trong những sắc phong thuộc bộ sưu tập Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu. (Ảnh: Hoàng Ngà/TTXVN)
“Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (1689-1943)” là bộ sưu tập độc bản được viết bằng tay, gồm 26 sắc phong gốc do các vua triều Lê, Nguyễn ban tặng; 19 tờ văn bằng, 3 bức trướng bằng lụa, viết bằng chữ Hán, chữ Nôm từ năm 1689 đến năm 1943. Văn bản có giá trị nguyên gốc, độc bản, nguồn gốc rõ ràng và các sự kiện liên quan… đã từng làm nguồn tư liệu để biên soạn sách, nhiều thông tin có thể kiểm chứng, đối chiếu qua các tài liệu chính sử của Việt Nam, giúp nghiên cứu quan hệ xã hội, lịch sử phát triển của làng thời xưa, đặc biệt trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX.
10. Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2024)
Vẻ đẹp trường tồn của bộ Cửu đỉnh tại sân Thế Tổ Miếu, Đại Nội Huế. Ảnh TTXVN
Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế là dương bản duy nhất, hiện đặt trước sân Thế Tổ Miếu trong Hoàng cung Huế, gồm 162 hình ảnh và chữ Hán được vua Minh Mạng cho đúc tại Huế vào năm 1835 và hoàn thành năm 1837. Đây là nguồn tư liệu độc đáo, quý hiếm được giới nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài rất quan tâm bởi nó mang giá trị nội dung về lịch sử, văn hóa-giáo dục, địa lý, phong thủy, y dược, nghệ thuật thư pháp.
Đáng lưu ý nhất là nghệ thuật đúc đồng và kỹ thuật của người thợ để tạo nên tác phẩm đặc sắc, độc đáo. Các bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng đảm bảo tính nguyên vẹn, là “nhân chứng” lịch sử chứng kiến sự thăng trầm của triều đại và điều quan trọng nhất là di sản tư liệu này được thể hiện dưới dạng hình ảnh và chữ Hán vẫn còn nguyên vẹn và ngay cả vị trí đặt chín chiếc đỉnh cũng chưa từng bị dịch chuyển.
11. Bộ sưu tập tài liệu của nhạc sĩ Hoàng Vân (1930-2018) (Di sản tư liệu thế giới năm 2025)
Tác phẩm "Bài ca Giao thông vận tải" của nhạc sĩ Hoàng Vân. Ảnh: TTXVN phát
Bộ sưu tập của Nhạc sĩ Hoàng Vân gồm hơn 700 tác phẩm âm nhạc sáng tác từ năm 1951-2010, được bảo tồn tốt, có tính tiếp cận cao thông qua nền tảng số đa ngữ.
Bộ sưu tập của nhạc sĩ Hoàng Vân thể hiện mối quan hệ đặc biệt của ông với lịch sử văn hóa và xã hội của Việt Nam, đặc biệt là số phận của phụ nữ và các tầng lớp yếu thế. Bộ sưu tập tài liệu của nhạc sĩ Hoàng Vân cung cấp thông tin có giá trị cho các học giả nghiên cứu về sự phát triển văn hóa và âm nhạc ở Việt Nam trong bối cảnh hậu thuộc địa, cũng như những hiểu biết sâu sắc về giao lưu văn hóa trong khối Xã hội chủ nghĩa. Bộ sưu tập cũng minh họa cho sự cộng sinh của các truyền thống âm nhạc châu Âu và châu Á, thể hiện tầm quan trọng của sự giao thoa giữa các dòng âm nhạc phương Đông và phương Tây.
12. “Văn bia Phố Hiến” (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2026)
Văn bia Phố Hiến gồm 41 văn bia chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, hiện được lưu giữ tại các di tích thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: TTXVN phát
“Văn bia Phố Hiến”, tỉnh Hưng Yên bao gồm 41 văn bia chữ Hán và chữ Nôm (niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX), nằm tại các di tích thuộc di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến (tỉnh Hưng Yên). Đây là di sản tư liệu mang tính toàn vẹn và xác thực, đã được cộng đồng gìn giữ nguyên trạng qua nhiều thế kỷ và là ký ức sống động về một thời kỳ lịch sử của Phố Hiến - một thương cảng quốc tế tiêu biểu ở châu Á thời bấy giờ.
Phố Hiến hình thành và phát triển từ thế kỷ XVI, đạt đến thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XVII, trở thành một trong những trung tâm văn hóa-thương mại lớn ở Việt Nam và là trung tâm giao thương của khu vực Đông Nam Á và Đông Á, gắn với xuất hiện của các phường thị qua các giai đoạn lịch sử, thu hút nhiều thương nhân nước ngoài như: người Hoa, người Nhật và từ nửa cuối thế kỷ XVII, có sự hiện diện của người Hà Lan, người Bồ Đào Nha và người Anh.
Ngoài việc phản ánh quá trình phát triển đô thị và hoạt động thương mại, Văn bia Phố Hiến còn phản ánh quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, sự phát triển hòa hợp và sự giao thoa tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống văn hóa, xã hội của các cộng đồng cư dân người Việt và người nước ngoài tại một đô thị cảng quốc tế từ thế kỷ XVII-XX, biểu thị cho tinh thần và truyền thống hiếu học của người Hưng Yên được thể hiện qua 9 tấm bia tại Văn Miếu Xích Đằng, đồng thời ghi chép sự chủ động đóng góp của nữ giới trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng Phố Hiến. Đây là nguồn cứ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế khi đề cập đến vấn đề ngoại giao văn hóa kinh tế và giao lưu hàng hải khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung và thương cảng Phố Hiến nói riêng.
13. “Ma nhai trên núi Non Nước” (Ninh Bình) (Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2026)
Ma nhai trên núi Non Nước (tỉnh Ninh Bình) có mật độ phân bố tập trung dày đặc, niên đại trải dài qua 5 vương triều (5/11/2026). Ảnh: Hải Yến - TTXVN
Ma nhai trên núi Non Nước thuộc Di tích quốc gia đặc biệt núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình, gồm 43 bản văn khắc hiện còn, sử dụng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Các văn bản được khắc trực tiếp trên vách đá, với nhiều thể loại, như: ngự bút, bia ký, thơ văn, đề từ… do các vị vua, quan, danh nhân, nhà văn hóa, nhà thơ lưu lại.
Được thực hiện bằng kỹ thuật điêu khắc đá truyền thống, các bản ma nhai có hình thức độc đáo, nội dung đa dạng và giá trị tư liệu không thể thay thế. Những văn khắc cung cấp thông tin về lịch sử dựng nước, giữ nước của Việt Nam; đồng thời phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa ở Đông Á, trong đó có sự giao thoa giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam.
Các bản khắc còn góp phần làm rõ lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại trong dòng chảy văn học chữ Hán ở Đông Á. Đáng chú ý, nội dung một số văn bản cho thấy sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội, tôn giáo qua nhiều giai đoạn lịch sử, cung cấp thêm cứ liệu về vị trí, vai trò của nữ giới trong đời sống xã hội Việt Nam từ thời trung đại./.
13 di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh (tính đến tháng 11/2026)
Diệp Ninh (tổng hợp)