Hà Nội (TTXVN 29/3/2026) Hữu Loan là một trong những nhà thơ đặc sắc, nổi bật nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp với một cá tính sáng tạo độc đáo. Với lối viết tự do mang âm điệu giàu nhạc tình, tràn đầy tình yêu thương và xuất phát từ nỗi lòng riêng, Hữu Loan đã chinh phục biết bao thế hệ người đọc cùng xúc động và đồng cảm theo trái tim tác giả. Ông đã để lại cho đời không nhiều thi phẩm, nhưng tạo dấu ấn và da diết nhất trong lòng bạn đọc bao thế hệ là "Màu tím hoa sim”.
Nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: st.
* Một cá tính thơ sáng tạo và độc đáo
Nhà thơ Hữu Thỉnh từng nói: Hữu Loan là một trong những người có cá tính sáng tạo độc đáo trong nền thơ ca đương đại Việt Nam. Còn nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thì cho rằng không thể thiếu tên Hữu Loan khi nhắc về những nhà thơ tiêu biểu của thời kỳ chống Pháp.
Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2/4/1916 tại Thanh Hóa. Ông đỗ tú tài năm 1943, từng đi dạy học, tham gia Mặt trận bình dân, tham gia Việt Minh tại quê nhà. Khi Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Giữa năm 1946, ông được phân công làm công tác tuyên huấn Quân khu 4, trực tiếp phụ trách tờ báo "Chiến sĩ".
Có thể nói, đây là thời kỳ hoàng kim kết hợp tuyệt đẹp giữa hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca của nhà thơ Hữu Loan. Cuộc kháng chiến gian khó mà kiêu hùng đã dội vào lòng ông, rồi tràn xuống trang viết mà thành bài thơ đầu tay: Đèo Cả, sáng tác năm 1946, một bản hùng ca kiêu hãnh của chiến sĩ Liên khu IV những ngày đầu kháng chiến.
Trong chiến dịch Nam tiến, đơn vị của ông đóng ở đèo Cả (Khánh Hòa). Những trận đánh ác liệt, những cuộc hành binh bất tận, gian khổ dặm trường của bộ đội đã thúc giục ông viết những câu thơ bất hủ, khắc lên bia đá non sông hình tượng anh bộ đội cách mạng: Đèo Cả/Đèo Cả/ Núi cao ngút/Mây trời Ai Lao/Sầu đại dương/Dặm về hun hút/Bia đá mù sương. Có thể thấy, chất lãng mạn cách mạng ẩn sâu trong từng con chữ sắc như dao nhưng mềm như mây, êm êm như con sóng vỗ dưới chân đèo Cả.
"Đèo Cả” cùng “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Hải Phòng - ngày 19/11/1946” của Trần Huyền Trân đã tạo thành một "tam tuyệt thi” thơ bậc thang kiểu Mayakovsky, mở ra một thời kỳ mới của nền thơ ca kháng chiến Việt Nam. Với tính tráng ca lẫm liệt, âm hưởng giàu sức chiến đấu, bài thơ khắc chạm hình tượng người lính Việt Nam trong cuộc binh lửa đầy gian khổ, hy sinh nhưng lãng mạn, hào hùng. Cái tài của Hữu Loan là ở chỗ ông biết nắm bắt những khoảnh khắc rất thực nhưng cũng rất đắt. Hình ảnh người lính sau những giờ phút chiến đấu căng thẳng, về bên suối đánh cờ, ăn cam rừng chua nheo mắt, mài kim vá áo, đập mảnh chai cạo râu đi vào thơ thật mới lạ và cảm động: "Rau khe/ cơm vắt/ áo phai màu sa trường.../ Gian nguy/ lòng không nhạt/ căm thù trăm năm xa/ máu thiêng sôi dào dạt/ tự nguồn thiêng ông cha...". Những câu thơ tự do lúc rắn đanh, lúc dồn nén, giàu phong vị sử thi mà rất hiện thực.
*… Và kiệt tác “Màu tím hoa sim”
Năm 1949, bài thơ “Màu tím hoa sim” ra đời, đã đưa tên tuổi Hữu Loan toả sáng trên văn đàn. Hầu như bất kỳ người yêu thơ Việt nào cũng biết hoặc thuộc bài thơ “Màu tím hoa sim”. Trong gần một thế kỷ, văn học trữ tình lãng mạn Việt Nam đã cho ra đời hàng trăm bài thơ hay của hàng chục nhà thơ nổi tiếng, thế nhưng bài thơ “Màu tím hoa sim” có thể nói là bài thơ duy nhất mãi mãi ở lại trong lòng những người yêu thơ. Nhiều nhà phê bình đã đánh giá “Màu tím hoa sim” là một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX.
Bài thơ được sáng tác khi nhà thơ đang trên đường hành quân, qua những rừng sim bạt ngàn thì hay tin người vợ ở quê nhà đã qua đời. Cái chết của người vợ trẻ đã làm cho Hữu Loan như hóa đá và từ đó màu tím của rừng sim trở thành bất tử trong thơ ông, để rồi bật nấc thành tiếng thơ đau xót:
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
…..
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím…
Bài thơ là tiếng khóc, là thương đau nhưng không bi lụy vì nước mắt của tình yêu đã vẽ thành một loài hoa. Hoa sim trong thực tại bước vào trang thơ và trở thành một biểu tượng tình yêu. Hữu Loan không ví von tình yêu là những đóa hồng kiêu sa lộng lẫy mà chỉ là một bông hoa rừng đơn sơ khiêm nhường. Vẻ đẹp riêng biệt của loài hoa này đến từ cái mỏng manh như tình yêu ngắn ngủi, đến từ cái màu tím làm xao xuyến lòng người và đến từ một sức sống mãnh liệt khi nó bất chấp cảnh hoang vu của núi rừng, khô cằn của sỏi đá, khắc nghiệt của thời tiết để dâng hoa cho đời.
Bài thơ diễn tả những cung bậc tình cảm tăng dần tới đỉnh điểm nỗi đau khi trái tim vỡ òa ngàn mảnh gửi trong từng cánh sim tím ngát trong chiều hoang biền biệt. Màu hoa sim ở đây là một nguồn mỹ cảm vì nó trở thành sắc màu thời gian, sắc màu thương nhớ. Dư âm của tình yêu, của cái đẹp và của niềm đau xót tràn trề suốt bài thơ tạo nên một sắc tím thủy chung, u buồn; bạt ngàn núi đồi, trùng trùng tiếc nuối…
Bài thơ “Màu tím hoa sim” được Nguyễn Bính đăng trọn vẹn lần đầu tiên trên báo “Trăm Hoa” năm 1956. Sau đó, bài thơ này được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc như: “Những đồi hoa sim” (Dzũng Chinh), “Áo anh sứt chỉ đường tà” (Phạm Duy), “Màu tím hoa sim” (Duy Khánh), “Chuyện hoa sim” (Anh Bằng), “Tím cả rừng chiều” (Thu Hồ), “Tím cả chiều hoang” (Nguyễn Đặng Mừng), “Chuyện người con gái hái sim” (Hồng Vân)…
Cùng cuộc hành trình chín năm kháng chiến, sau “Đèo Cả”, “Màu tím hoa sim”, thơ Hữu Loan vẫn nặng tình làng bản, quê hương ruột thịt. Là nỗi nhớ thương của gái làng, trai lính trong "Những làng đi qua". Rồi đến "Hoa lúa" có cái gì đó quen thuộc, gần gũi, thân thương như ca dao: “Đôi mắt em mang/ chân trời quê cũ/ giếng ngọt cây đa/ anh khát tình làng quê/ trong mắt em/ thăm thẳm…”.
Nhận xét về thơ Hữu Loan, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: "Hữu Loan là nhà thơ hai lần đặc sắc. Đặc sắc ở hồn quê và đặc sắc trong khí phách. Những bài Đèo Cả, Quách Xuân Kỳ táo bạo, mới mẻ, ngang tàng, và quyết liệt bao nhiêu thì Màu tím hoa sim, Hoa lúa, Những làng đi qua quyến luyến tha thiết bấy nhiêu. Từ thơ ông và từ con người ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết của một thi nhân và ngọn lửa ấm của một nghệ sĩ cách mạng".
Sau hoà bình lập lại, Hữu Loan về công tác tại báo Văn Nghệ và Hội nhà Văn Việt Nam, sau đó ông về quê nhà ở Nga Sơn sinh sống.
Ngày 18/3/2010, tác giả của tuyệt tác “Màu tím hoa sim” về với đất mẹ trong bóng chiều ngả vàng nơi chân núi Vân Hoàn. “Người trai khói lửa” đã về với “người em gái quê nhà”. Đời một người lính, một nhà thơ thật chẳng có gì tiếc nuối khi đã cống hiến hết mình cho đất nước, cho thi ca./.
Diệp Ninh (tổng hợp)