Hà Nội (TTXVN 9/2/2026)
75 năm trước, từ ngày 11 đến 19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là Đại hội đầu tiên của Đảng được tổ chức trong nước và cũng là Đại hội duy nhất cho đến nay được tổ chức ngoài Thủ đô Hà Nội. Những quyết sách được thông qua tại Đại hội II không chỉ đáp ứng yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến, mà còn đặt nền tảng lý luận và thực tiễn cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX.
Toàn cảnh Đại hội lần thứ II của Đảng. Ảnh tư liệu - TTXVN
* Đánh dấu bước trưởng thành về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng
Đại hội Đảng lần thứ II được triệu tập trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến sâu sắc. Trên phạm vi toàn cầu, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và củng cố, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ. Thế giới bước vào thời kỳ “Chiến tranh lạnh”, trật tự hai cực hình thành, trong đó Mỹ gia tăng can thiệp vào nhiều khu vực, đặc biệt là Đông Dương, từng bước thay chân thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Ở trong nước, sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn phản công và tiến công. Thế và lực của cách mạng không ngừng được củng cố, sự ủng hộ quốc tế ngày càng rộng mở, song yêu cầu đặt ra là phải hoàn chỉnh đường lối, củng cố tổ chức lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng phát triển.
Trong bối cảnh đó, việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng không chỉ là yêu cầu tất yếu về tổ chức, mà còn là đòi hỏi khách quan của lịch sử cách mạng Việt Nam.
- Xác định nhiệm vụ cấp bách nhất là đưa kháng chiến đến thắng lợi
Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11 đến 19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho 766.349 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội diễn ra trong điều kiện chiến tranh ác liệt, song vẫn bảo đảm đầy đủ nội dung, chương trình làm việc khoa học, chặt chẽ.
Trong mười ngày làm việc, Đại hội đã nghiên cứu, thảo luận và quyết định nhiều vấn đề hệ trọng: Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày; Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày; Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng; các báo cáo về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội, kinh tế-tài chính, văn hóa-văn nghệ.
Trong đó, Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tổng kết hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng, khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập, thống nhất và dân chủ là hoàn toàn đúng đắn. Báo cáo nêu rõ hai nhiệm vụ trung tâm của Đảng lúc bấy giờ là: “1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. 2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam”. Báo cáo nhấn mạnh: “Nhiệm vụ thứ nhất, nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi. Các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”.
- Quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai
Từ Đại hội lần thứ Nhất (3/1935, tại Ma Cao, Trung Quốc), đến năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã trải qua 16 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Song, sự nghiệp cách mạng của ba nước phát triển không đều và có những đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có đường lối chính trị và tổ chức lãnh đạo thích hợp đối với mỗi nước, để phát huy động lực dân tộc của từng quốc gia, đưa cách mạng vững bước tiến lên giành thắng lợi.
Căn cứ vào thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ tổ chức kháng chiến của ba dân tộc Đông Dương, Đại hội Đảng lần thứ II quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một đảng riêng biệt có cương lĩnh phù hợp với đặc điểm mỗi nước. Ở Việt Nam, Đại hội quyết định thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam vừa kế thừa truyền thống của Đảng Cộng sản Đông Dương, vừa trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời có nghĩa vụ giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia giành thắng lợi.
Một trong những quyết định có ý nghĩa bước ngoặt của Đại hội Đảng lần thứ II là đưa Đảng ra hoạt động công khai. Quyết định này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng, phù hợp với tương quan lực lượng trong nước và quốc tế, đồng thời thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về tư duy chiến lược và tổ chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện trao đổi với các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II trong giờ giải lao (2/1951). Ảnh: TTXVN
- Hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Đại hội Đảng lần thứ II đã thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, xác định rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính cương chỉ ra con đường phát triển của cách mạng Việt Nam từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, trải qua các giai đoạn phù hợp, tiến lên xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đại hội cũng đề ra hệ thống chính sách lớn nhằm tập trung mọi lực lượng cho mục tiêu trung tâm là “đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”, từ xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện chính sách ruộng đất, phát triển kinh tế - tài chính kháng chiến, đến tăng cường đoàn kết quốc tế.
Những nội dung đó đã tạo nên một chỉnh thể đường lối cách mạng khoa học, phù hợp thực tiễn, trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và các giai đoạn cách mạng tiếp theo.
- Củng cố tổ chức và xây dựng Đảng vững mạnh
Cùng với việc hoàn chỉnh đường lối, Đại hội Đảng lần thứ II đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đề cao công tác lý luận, phát triển phê bình và tự phê bình, tăng cường kỷ luật, củng cố tổ chức và đào tạo cán bộ - những vấn đề mang tính nguyên tắc, có giá trị xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng cho đến ngày nay.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 29 đồng chí. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng; đồng chí Trường Chinh tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư. Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất đối với toàn bộ cuộc kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (hàng sau, ngoài cùng bên trái) với các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
* Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của Đại hội Đảng lần thứ II
Đại hội Đảng lần thứ II là một dấu mốc có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, không chỉ đối với tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Lần đầu tiên, Đảng ta tổng kết một cách hệ thống thực tiễn hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng, từ cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền năm 1945, đến tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng ngày càng giành thế chủ động.
Đại hội Đảng lần thứ II đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng về tư duy lý luận và đường lối cách mạng. Việc xác định cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, đã khắc phục một cách căn bản những nhận thức giản đơn, giáo điều, đồng thời khẳng định con đường phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội không chỉ là sự kế thừa Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, mà còn là sự bổ sung, phát triển quan trọng, phản ánh trình độ tư duy lý luận ngày càng chín muồi của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Đại hội Đảng lần thứ II có ý nghĩa quyết định trong việc đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ thế phòng ngự sang thế chủ động tiến công. Những nhiệm vụ, phương hướng và chính sách được Đại hội đề ra đã tập trung cao độ cho mục tiêu trung tâm là “đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chính đường lối đúng đắn được xác lập tại Đại hội đã trực tiếp dẫn dắt cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi quyết định với Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta.
Đại hội Đảng lần thứ II là bước ngoặt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, thể hiện nhận thức sâu sắc của Đảng về vai trò then chốt của tổ chức và cán bộ. Việc đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam không chỉ đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng, mà còn khẳng định bản lĩnh chính trị, sự tự tin và năng lực lãnh đạo của một Đảng cầm quyền trong điều kiện chiến tranh. Những quan điểm về đề cao công tác lý luận, phát huy phê bình và tự phê bình, coi trọng đào tạo, rèn luyện cán bộ được Đại hội xác định đã trở thành những nguyên tắc có giá trị lâu dài trong công tác xây dựng Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh trao đổi về những văn kiện Đại hội II
Không chỉ mang ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam, Đại hội Đảng lần thứ II còn thể hiện tầm nhìn chiến lược về đoàn kết quốc tế và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào và Campuchia. Quyết định thành lập các đảng cách mạng riêng ở mỗi nước, trên cơ sở tôn trọng tính độc lập, tự chủ của từng dân tộc, đồng thời tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, đã góp phần củng cố mặt trận đoàn kết của ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
75 năm nhìn lại có thể khẳng định rằng Đại hội Đảng lần thứ II không chỉ là bước ngoặt “đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”, mà còn là Đại hội đặt nền móng vững chắc cho tư duy lý luận, phương pháp lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Những giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm rút ra từ Đại hội tiếp tục có ý nghĩa thời sự sâu sắc, góp phần củng cố niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.
Minh Duyên