Hà Nội (TTXVN 2/9/2025) 80 năm sau ngày độc lập, lịch sử đã khẳng định một chân lý: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ buổi đầu giành chính quyền, qua những năm tháng kháng chiến gian khổ, đến công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng luôn là ngọn cờ quy tụ sức mạnh dân tộc, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, khát vọng và tầm nhìn chiến lược để đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

* Đảng lãnh đạo toàn dân giành độc lập, thống nhất đất nước

80 năm trước, trong khoảnh khắc lịch sử tại Quảng trường Ba Đình, lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập”. Đó không chỉ là lời tuyên bố trước quốc dân đồng bào, mà còn là tiếng nói với thế giới về khát vọng độc lập, tự do của một dân tộc đã chịu đựng bao đau thương, mất mát. Để có lời tuyên ngôn ấy, toàn dân tộc Việt Nam đã phải đi qua cả một quá trình đấu tranh kiên cường, trường kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Trước đó, các phong trào yêu nước tuy bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều rơi vào bế tắc vì thiếu một lực lượng chính trị tiên phong đủ bản lĩnh và đường lối đúng đắn dẫn đường. Đảng ra đời đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng ấy.

Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu chiến lược: lật đổ ách thống trị thực dân, phong kiến, xây dựng một xã hội do nhân dân làm chủ. Chính đường lối ấy đã quy tụ và định hướng các phong trào cách mạng: Xô Viết-Nghệ Tĩnh 1930-1931, phong trào dân chủ 1936-1939, cao trào kháng Nhật cứu nước 1939-1945. Mỗi phong trào đều là minh chứng cho khả năng tập hợp lực lượng, tổ chức quần chúng và đưa ra khẩu hiệu hành động phù hợp với tình hình của Đảng.

Đặc biệt, với việc thành lập Mặt trận Việt Minh (ngày 19/5/1941), Đảng đã thực hiện thành công chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Tháng 8/1945, trong bối cảnh Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng nắm bắt thời cơ, phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Chỉ trong vòng nửa tháng, chính quyền về tay nhân dân cả nước. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng - một chính đảng cách mạng chỉ mới 15 tuổi nhưng đã chứng minh vai trò tiên phong và tầm vóc lịch sử của mình.

Sau khi thành lập nước, chính quyền cách mạng vừa ra đời phải đối mặt với “thù trong giặc ngoài”, với muôn vàn khó khăn và sự quay trở lại của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, những quyết sách của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, như: “diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”… đã giúp dân tộc ta đứng vững, củng cố chính quyền nhân dân.

Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Với đường lối “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”, Đảng đã huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ, nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneve về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam vào ngày 21/7/1954. Trong thắng lợi vẻ vang ấy, sự lãnh đạo kiên định và sáng suốt của Đảng chính là yếu tố quyết định.

Sau Hiệp định Geneve, đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền. Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, vừa xây dựng kinh tế-văn hóa-xã hội, vừa làm hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã kiên cường chống lại chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai. Đảng đã lựa chọn con đường đấu tranh lâu dài, kết hợp quân sự với chính trị, ngoại giao, phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Các chiến công của quân dân ta trong các chiến dịch, như Chiến thắng Ấp Bắc (1963), Chiến dịch Bình Giã (1964-1965), Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (1971)… đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Đỉnh cao là Tổng tiến công mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã chấm dứt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại thắng Mùa Xuân 1975 là minh chứng cho trí tuệ, bản lĩnh và sự lãnh đạo kiệt xuất của Đảng. Đây cũng là thắng lợi của ý chí độc lập, tự do và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự kiện này mở ra kỷ nguyên mới, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhìn lại giai đoạn 1930-1975, có thể khẳng định: nếu không có sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta không thể đi từ thân phận nô lệ đến địa vị của một quốc gia độc lập, thống nhất. Những thắng lợi ấy bắt nguồn từ: đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nghệ thuật lãnh đạo tài tình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc... Chính những nhân tố đó đã tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc của Đảng, để lại những bài học vô giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

* Lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, hội nhập, kiến tạo và phát triển

Đại thắng Mùa Xuân 1975 đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, song cũng đặt ra thách thức chưa từng có. Cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, cơ sở hạ tầng kiệt quệ, hậu quả chiến tranh nặng nề, lại bị bao vây cấm vận...

Trong bối cảnh đó, Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời lãnh đạo nhân dân tiến hành khôi phục kinh tế, ổn định đời sống.

Những năm 1980, khủng hoảng kinh tế-xã hội đặt đất nước vào tình thế vô cùng khó khăn. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta đã khởi xướng công cuộc Đổi mới. Trọng tâm là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử, đánh dấu sự trưởng thành của Đảng về tư duy lý luận, khả năng vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính quyết sách ấy đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Sau gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Từ một quốc gia thiếu ăn, phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kinh tế tăng trưởng liên tục, quy mô nền kinh tế năm 2024 đã tiến gần mốc 500 tỷ USD, gấp gần 100 lần so với năm 1986, đứng thứ 4 Đông Nam Á và thứ 34 toàn cầu. Việt Nam trở thành điểm sáng của thế giới về xóa đói giảm nghèo, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chủ quyền lãnh thổ được bảo vệ. Văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ đạt nhiều tiến bộ. Hệ thống chính trị từng bước được kiện toàn, xây dựng Đảng được đẩy mạnh với quyết tâm chính trị cao trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đặc biệt, những năm gần đây, Đảng đã chỉ đạo triển khai nhiều chiến lược mới gắn với xu thế toàn cầu: đẩy mạnh chuyển đổi số trên tất cả các lĩnh vực; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao vào sản xuất và quản lý. Đây là những động lực quan trọng để Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập sâu rộng và bắt kịp với sự phát triển của thời đại.

Cùng với phát triển kinh tế-xã hội, Đảng chú trọng chính sách đối ngoại và mở rộng cánh cửa hội nhập. Nhờ đó, từ chỗ bị bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam đã có quan hệ với 194 nước và vùng lãnh thổ; tham gia Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)…; ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP…).

Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Hai lần đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn… đã khẳng định tầm vóc, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng trong lãnh đạo đối ngoại.

Trong kỷ nguyên mới, Đảng đã khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng ấy được thể hiện rõ trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; trong chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước và trong sự đồng lòng, nỗ lực vươn lên của mỗi người dân.

Có thể khẳng định, nếu trong chiến tranh, Đảng là linh hồn của kháng chiến, thì trong hòa bình, Đảng kiến tạo, định hướng cho công cuộc phát triển.

Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 không chỉ để ôn lại chặng đường đã qua, mà còn để khơi dậy khát vọng vươn lên mạnh mẽ hơn. Con đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng với trí tuệ, bản lĩnh và sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ vươn lên mạnh mẽ, tiếp tục viết nên những trang sử vàng chói lọi./.

Minh Duyên