Hà Nội (TTXVN 27/1/2026) Cách đây 85 năm, ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc qua mốc 108 Pác Bó (Cao Bằng). Đây là sự kiện lịch sử đặc biệt trọng đại, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam; đồng thời là bước ngoặt mang tầm thời đại, đánh dấu sự hội tụ mang tính tất yếu giữa tư duy lý luận cách mạng khoa học với thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam, gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX.
Sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nỗi thống khổ của nhân dân. Người quyết định phải tìm ra con đường mới nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để cứu nước, cứu dân. Trong ảnh: Bến Nhà Rồng nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh: TTXVN
* Cuộc hành trình lịch sử từ Bến cảng Nhà Rồng
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và từng bước thiết lập ách đô hộ lên đất nước ta. Trước tình cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến cảnh đồng bào lầm than, cơ cực, sự hành hạ, bóc lột tàn bạo của thực dân, với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần dân tộc sục sôi, các phong trào đấu tranh đòi lại nền độc lập liên tục diễn ra, như phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân và khởi nghĩa Yên Thế… Thế nhưng hết thảy đều bị dìm trong biển máu. Thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, đều bắt nguồn và phản ánh sự khủng hoảng đường lối cách mạng ở nước ta.
Trong bối cảnh đó, có người thanh niên nung nấu quyết tâm “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Đó chính là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nỗi thống khổ của nhân dân. Người quyết định phải tìm ra con đường mới nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để cứu nước, cứu dân. Trong ảnh: Ảnh chụp chiếc tàu Latouche Treville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ bến cảng Nhà Rồng ngày 5/6/1911. Ảnh: TTXVN
Bằng trí tuệ mẫn tiệp, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó đã nhìn ra sự bế tắc của những con đường cứu nước lúc bấy giờ. Và ngày 5/6/1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba, khi đó mới 21 tuổi, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, đã khởi hành sang Pháp để đi tìm con đường cứu dân, cứu nước. Bến cảng Nhà Rồng trở thành điểm khởi đầu trên con đường cách mạng của Người, nơi mở ra cuộc hành trình của ý chí, niềm tin và khát vọng kiếm tìm con đường để cứu nước, giải phóng dân tộc, cũng là cuộc hành trình hướng về những giá trị nhân văn cao cả, vì sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và dân tộc trong tương lai.
Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc. Sớm nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng Tháng Mười mở ra, Người xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khám phá ra chân lý lịch sử: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Sau khi tìm ra con đường để giải phóng dân tộc, Người tập trung truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
* Ngày Bác về nước: bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam
Đầu năm 1940, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Sự kiện Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (tháng 6/1940) theo Người “là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng), một nơi “bí mật” có “hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui”. Ảnh: TTXVN phát
Và ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự kiện Người về nước là kết tinh cao đẹp của khát vọng độc lập dân tộc, của trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược thiên tài; là nguồn khởi phát trực tiếp cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Xúc cảm trước khoảnh khắc thiêng liêng đặc biệt ấy đã được nhà thơ Tố Hữu viết trong trường ca “Theo chân Bác”. Những vần thơ ấy còn vang vọng đến hôm nay và mãi mãi mai sau:
... “Ôi sáng xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về... Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ…
Bác đã về đây Tổ quốc ơi
Nhớ thương, hòn đất ấm hơi người
Ba mươi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!”...
Kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng nước ta đã có những bước ngoặt quan trọng.
Chỉ 4 tháng sau khi về nước (từ ngày 10 đến 19/5/1941), Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa I) của Đảng. Đóng góp quan trọng nhất của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì là đã bổ sung, phát triển đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam - đường lối giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong đó, đặc biệt là việc xác định: Đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên trên hết; xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức Đảng; xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng, lực lượng chính trị, tập hợp lực lượng cho mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang, cũng như các tổ chức chính trị khác như: Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, tích cực chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa… Đây chính là quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, sự kế thừa, phát triển qua khảo nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng.
Từ Pác Bó - Cao Bằng, ngọn lửa cách mạng đã lan tỏa khắp cả nước, dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới
Sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) với đường lối toàn dân, toàn diện, lâu dài. Các chiến dịch lớn như Việt Bắc, Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Cao Bằng – vùng đất có vị trí đặc biệt quan trọng về địa chính trị, quốc phòng, an ninh và giàu truyền thống yêu nước – làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên. Quyết định chiến lược đó không chỉ thể hiện tài thao lược của Người mà còn khẳng định vai trò, vị thế đặc biệt của Cao Bằng trong tiến trình cách mạng Việt Nam hiện đại. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng (15/9/1958). Ảnh: TTXVN
Từ năm 1954, nhân dân ta tiếp tục kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn và đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại, nổi bật là chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (1972). Miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris (1973), tạo điều kiện thuận lợi cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (ngày 30/4/1975).
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.
Đặc biệt, Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở ra công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm.Những kết quả đó là hành trang để đất nước vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
Mới đây, trong bài viết “TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Với bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, sự tin yêu, đồng lòng nhất trí của Nhân dân, chúng ta có thể khẳng định thuận lợi sẽ nhiều hơn thách thức. Thế và lực của đất nước sau hơn nửa thế kỷ thống nhất đã lớn mạnh hơn bao giờ hết, tạo tiền đề để chúng ta tự tin vươn lên…
Trong thời khắc đặc biệt này, hơn bao giờ hết, lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vẫn vang vọng: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”. Lời hiệu triệu của Bác năm xưa đã trở thành niềm tin tất thắng, cổ vũ cả dân tộc ta vùng lên giành độc lập, tự do. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lời hiệu triệu ấy vẫn sục sôi khí thế, thôi thúc chúng ta quyết tâm, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với bạn bè năm châu”./.
Phương Anh