Hà Nội (TTXVN 1/9/2025) 56 năm đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam về với thế giới người hiền, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Người vẫn sống mãi trong lòng nhân dân, như một biểu tượng bất tử của lòng yêu nước, thương dân. Nhớ đến Bác hôm nay, trong thời khắc thiêng liêng của ngày Quốc khánh 2/9, mỗi người dân Việt Nam càng thêm thấm thía giá trị lớn lao của sự hy sinh, cống hiến và tình yêu vô bờ mà Người đã dành cho đất nước và nhân dân.
Tại một căn phòng ở gác 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

* Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ít có tên tuổi nào gắn liền với hai chữ "Nước" và "Dân" sâu đậm như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cả cuộc đời Người là hành trình không ngừng nghỉ vì mục tiêu độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. “Nước” và “Dân” chính là lẽ sống, là điểm tựa và cũng là đích đến cuối cùng của mọi tư tưởng, hành động của Người.

Sinh ra vào cuối thế kỷ XIX, khi đất nước đang chìm trong đêm dài nô lệ, cậu bé Nguyễn Tất Thành đã sớm cảm nhận sâu sắc nỗi đau mất nước, mất tự do của đồng bào mình. Từ tuổi thiếu niên, Người đã nuôi dưỡng trong mình khát vọng cháy bỏng: phải tìm ra con đường cứu cho dân tộc. Để thực hiện khát vọng đó, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Người rời Tổ quốc thân yêu, bắt đầu một cuộc hành trình mà sau này đã làm thay đổi vận mệnh của cả một dân tộc.

30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, Người làm đủ nghề để kiếm sống: phụ bếp, thợ ảnh, công nhân, nhà báo… Mỗi công việc, mỗi bước chân đi qua đều góp phần hun đúc nên một trí tuệ lớn, một bản lĩnh kiên cường. Trên hành trình ấy, Người đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (2).

Từ nhận thức lý luận đó, Người từng bước xây dựng cơ sở cách mạng, truyền bá tư tưởng tiến bộ về quê hương, chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng cách mạng chân chính. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, cũng là kết quả trực tiếp từ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, kiên trì và bền bỉ của Người.

Với đường lối đúng đắn, Người đã từng bước xây dựng lực lượng, tập hợp sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi thời cơ lịch sử đến, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân nổi dậy giành chính quyền. Tháng Tám năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ và giành thắng lợi thần tốc, dân tộc Việt Nam đã tự mình giành lại quyền làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định chủ quyền dân tộc, mà còn là lời thề son sắt: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (3). Hình ảnh Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trong buổi lễ ngày hôm đó đã in sâu trong tâm trí người dân, trở thành biểu tượng cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

Sau độc lập, chính quyền non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh lãnh tụ thiên tài: một mặt tập trung xây dựng chính quyền cách mạng, phát động các phong trào “diệt giặc đói, diệt giặc dốt”, mặt khác kiên trì đấu tranh ngoại giao, đồng thời không ngừng củng cố khối đoàn kết toàn dân. Chính sự sáng suốt và quyết đoán ấy đã giúp dân tộc ta giữ vững thành quả cách mạng.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh toàn dân. Người viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” bất hủ, khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ (4)”. Hưởng ứng lời kêu gọi ấy, cả dân tộc đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, với niềm tin tất thắng.

Trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người chỉ huy tối cao, vừa là nguồn động viên tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Từ căn cứ địa Việt Bắc, Người đề ra những chủ trương chiến lược đúng đắn, kiên định phương châm kháng chiến lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Người quan tâm xây dựng hậu phương vững mạnh, phát triển lực lượng vũ trang, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Cùng với đó, Người luôn quan tâm đến từng tầng lớp nhân dân. Mỗi lời động viên, sự quan tâm của Người đều tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân ta, góp phần làm nên những chiến công vang dội. Đỉnh cao của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi ấy không chỉ đánh bại thực dân Pháp xâm lược, mà còn khẳng định tầm vóc và trí tuệ của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai để giải phóng. Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn chiến lược sáng suốt, đã kiên định đường lối: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, coi đó là hai mặt gắn bó khăng khít của một mục tiêu chiến lược. Và tư tưởng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người đã trở thành "ngọn đuốc" soi đường cho cả dân tộc.

Trong suốt chặng đường đầy gian lao ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là điểm tựa tinh thần, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Dù sức khỏe ngày một yếu, nhưng Người vẫn dõi theo từng bước đi của cách mạng, vẫn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ giữ vững niềm tin vào thắng lợi tất yếu của dân tộc.

Và rồi ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã về với thế giới người hiền, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trong giai đoạn khốc liệt. Nhưng chính Di chúc thiêng liêng mà Người để lại đã trở thành kim chỉ nam, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Sáu năm sau, Mùa xuân 1975 lịch sử, cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui thống nhất, cũng là hiện thực trọn vẹn khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng đau đáu: “Nam - Bắc sum họp một nhà”.

Có thể khẳng định, cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bản anh hùng ca vĩ đại vì dân tộc: từ buổi ra đi tìm đường cứu nước, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam mới, đến việc lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ giành thắng lợi vẻ vang. Vì nước, Người đã hiến dâng tất cả, trí tuệ, sức lực và cả cuộc đời mình, để đưa dân tộc Việt Nam từ bóng tối nô lệ đến độc lập, tự do; từ chia cắt đến thống nhất và phát triển.

* Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân

Nếu sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vì nước, thì trái tim Người lại đập từng nhịp vì dân. Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không tách rời hạnh phúc của nhân dân. Người từng khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (5). Với Người, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng, là đích đến của mọi hành động.

Điều này thể hiện rất rõ trong từng chính sách, việc làm cụ thể. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, giữa muôn vàn khó khăn, Bác đã phát động các phong trào “diệt giặc đói, diệt giặc dốt”, nhắc nhở cán bộ “việc gì lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì hại đến dân thì hết sức tránh”. Vì thế, mọi đường lối, chủ trương của Đảng và Chính phủ đều đặt dân ở vị trí trung tâm.

Chính vì đặt nhân dân ở trung tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (6). Vì thế, trong mọi quyết sách, Người đều “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân để tạo nên sức mạnh. Người khẳng định: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, cán bộ phải là “đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Tư tưởng “dân làm chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở lời nói, mà thấm sâu trong từng hành động. Người luôn nhấn mạnh nguyên tắc: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây không chỉ là phương châm hành động trong xây dựng chính quyền cách mạng trước đây, mà còn là một quan điểm căn bản để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ngày nay.

Không chỉ dừng ở chính sách, tình thương dân của Bác còn thể hiện qua những cử chỉ giản dị và chan chứa yêu thương: “Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ trung thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương…” (7). Bác đau lòng khi nghe tin đồng bào bị thiên tai, Bác vui mừng khi nông dân gặt hái mùa vàng, Bác dặn dò tha thiết các chiến sĩ trước giờ ra trận…

Bác còn đặc biệt quan tâm đến các thương binh, liệt sĩ và gia đình họ, vì đó là những “người có công với nước”, cần được chăm lo chu đáo. Với phụ nữ, Bác nhấn mạnh vai trò to lớn của họ trong sự nghiệp cách mạng và khẳng định bình đẳng giới là tiêu chuẩn của tiến bộ; với thanh thiếu niên, Người gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (8).

Tất cả đều là minh chứng sinh động cho một trái tim yêu dân vô hạn. Chính tình yêu thương đó đã biến Người thành điểm hội tụ của niềm tin và sự đoàn kết của dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã phải thốt lên “Bác ơi, tim Bác mênh mông thế/ Ôm cả non sông, mọi kiếp người” (9).

Tình yêu bao la của Người dành cho dân tộc, cho nhân dân đã làm nên một Hồ Chí Minh bất tử trong trái tim mỗi người Việt Nam: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng/Hơn tượng đồng phơi những lối mòn” (10).

Và sự yêu nước, thương dân của Người và những di sản Người để lại đã mở lối, cổ vũ cho dân tộc làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đồng thời là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, đúng như mong ước của Người. Người mãi là "ngọn đuốc" sáng soi đường cho dân tộc Việt Nam./.

Minh Duyên

(1) (7) Trích bài hát “Bác Hồ một tình yêu bao la” của nhạc sĩ Thuận Yến

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2011, t.12, tr.30

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.3

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.64

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.453

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.35

(9) (10) Trích bài thơ “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu