Hà Nội (TTXVN 16/1/2026)
Hơn một nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, trải qua bao thử thách khắc nghiệt, bắt đầu từ một thanh niên trí thức yêu nước làm thơ, viết báo với ước vọng dùng ngòi bút “xoay vần thời thế” đến khi trở thành một nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, đồng chí Xuân Thuỷ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Dù đảm nhiệm trọng trách ở nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng chí đều hoàn thành xuất sắc và để lại những dấu ấn không thể phai mờ.
Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn Chính phủ VNDCCH tại cuộc họp báo sau Phiên thứ 27 Cuộc nói chuyện chính thức giữa đại diện Chính phủ VNDCCH và đại diện Chính phủ Mỹ ở Paris, ngày 23/10/1968. Ảnh: Tư liệu TTXVN
* Nhà cách mạng tài hoa, người “thắp lửa” đào tạo báo chí
Đồng chí Xuân Thủy, tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, sinh ngày 2/9/1912 tại thôn Hòe Thị, tổng Phương Canh, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội). Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, đồng chí đã sớm tham gia các tổ chức yêu nước chống thực dân Pháp.
Trong quá trình hoạt động cách mạng đấu tranh giành chính quyền, bất chấp mọi gian nguy, dù bị địch bắt và tù đày, đồng chí vẫn luôn hăng hái hoạt động tuyên truyền cách mạng, không ngừng rèn giũa ý chí phấn đấu và luôn tin tưởng vào sự nghiệp của Đảng. Đồng chí từng kể: “Trong nhà tù đế quốc, chẳng biết ngày mai số phận ra sao những hễ nói đến học là ham thích, coi đó như lẽ sống, xác định dứt khoát còn sống ngày nào là phải học ngày đó, học gấp, học càng nhiều càng tốt, không chỉ học để mai đây nếu thoát khỏi nhà tù sẽ có đầy đủ hành trang để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, mà lỡ có chết cũng không mang tiếng là con ma vô học, như vậy chẳng khác nào để kẻ thù khinh thường và để tiếng xấu cho cách mạng”.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Xuân Thủy tiếp tục trải qua những chặng đường vô cùng vất vả, gian khó nhưng không kém phần sôi động và vẻ vang.
Trong công tác Đảng, trải qua nhiều cương vị, đồng chí Xuân Thủy luôn hi sinh hết mình cho sự nghiệp của Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân kháng chiến cứu quốc cũng như trong việc tăng cường đoàn kết với giai cấp vô sản quốc tế.
Với sự nghiệp báo chí, đồng chí Xuân Thủy có nhiều đóng góp hết sức quan trọng và là người có công lớn trong việc đào tạo lớp nhà báo đầu tiên cho kháng chiến. Đồng chí viết báo từ rất sớm, trước khi tham gia hoạt động cách mạng năm 1932. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, báo Cứu Quốc do đồng chí Xuân Thủy làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là tờ báo hàng ngày duy nhất của cách mạng, là cơ quan ngôn luận hàng ngày của Mặt trận và của Đảng và tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chính trị, vạch trần mọi âm mưu của bọn đế quốc và phản động, cổ động quần chúng đứng lên bảo vệ cách mạng, chống giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt và chuẩn bị sẵn sàng tham gia cuộc kháng chiến quốc tế. Báo Cứu Quốc là tiền thân của báo Đại Đoàn Kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này.
Đồng chí Xuân Thuỷ là nhà báo Việt Nam đầu tiên được bầu vào Ban Chấp hành Tổ chức Nhà báo Quốc tế (OIJ). Đối với những người làm báo Việt Nam, đồng chí là vị lãnh đạo có uy tín và gần gũi, như Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam đã đánh giá: “Đối với Hội Nhà báo Việt Nam, từ trước đến nay, đồng chí Xuân Thuỷ không chỉ là người sáng lập, vị trí Chủ tịch đầu tiên của Hội, mà mãi mãi là người thầy, người bạn, người anh gần gũi và thân thiết”.
Trong công tác Quốc hội, đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng cho công tác xây dựng Quốc hội cũng như trong việc lập hiến và lập pháp của Quốc hội. Đồng chí là người giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị Tổng tuyển cử Quốc hội ngay từ khóa đầu tiên và liên tục là đại biểu Quốc hội cho tới giữa khóa VII. Đồng chí cũng trực tiếp tham gia soạn thảo các hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ và chủ trì việc soạn thảo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Trong công tác Mặt trận, đồng chí Xuân Thủy đã có những đóng góp to lớn. Đồng chí luôn là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt và thực hiện thắng lợi đường lối của Mặt trận Tổ quốc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Đồng chí còn là một trong 10 cán bộ đầu tiên được tặng thưởng Huân chương vì Sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc. Đánh giá cao những đóng góp vô cùng to lớn của đồng chí trong công tác mặt trận, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khẳng định: “đồng chí Xuân Thuỷ là một trong những cán bộ thực hiện xuất sắc nhất đường lối đại đoàn kết dân tộc và chính sách Mặt trận thống nhất của Bác Hồ và của Đảng ta. Suốt 41 năm, từ lúc ra khỏi nhà tù Sơn La đến khi qua đời, đồng chí liên tục là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận”.
Bên cạnh đó, đồng chí Xuân Thủy còn để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong công tác xây dựng ngành ngoại giao Việt Nam. Những lĩnh vực đối ngoại mà đồng chí từng trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt ngày nay đã trở thành các trụ cột quan trọng nhất của nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam. Đó là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đồng chí đã có công lớn trong việc đào tạo được nhiều cán bộ ngoại giao giỏi cho cả hai miền Bắc - Nam. Học tập và tiếp thu trí tuệ và kinh nghiệm của đồng chí Xuân Thủy, nhiều cán bộ ngoại giao xuất sắc của ngành đã trưởng thành và đi lên từ quá trình tham gia đàm phán Hiệp định Paris, viết tiếp trang sử vẻ vang của ngành, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bộ trưởng Xuân Thuỷ bắt tay Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger sau buổi họp báo về ký tắt Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris (Pháp), ngày 23/1/1973. Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN phát
Ghi nhận công lao và những đóng góp to lớn của đồng chí Xuân Thủy đối với Tổ quốc, với ngành ngoại giao, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng đồng chí Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập Hạng nhất, Huân chương Kháng chiến Hạng nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
* Đồng chí Xuân Thủy với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Năm 1932, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng.
Từ năm 1938 đến năm 1943, đồng chí bị thực dân Pháp bắt nhiều lần và bị giam ở các nhà lao Phúc Yên, Hà Đông, Hà Nội, Sơn La và trại Bắc Mê. Trong các nhà lao, đồng chí là một trong những người lãnh đạo kiên quyết đấu tranh chống chế độ nhà tù khắc nghiệt và vận động lính địch để thành lập cơ sở cách mạng.
Năm 1941, đồng chí được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương.
Năm 1944, đồng chí ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng. Đồng chí được phân công phụ trách báo Cứu quốc - Cơ quan Trung ương của Tổng bộ Việt Minh.
Năm 1945, đồng chí tham gia chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Bắc Bộ.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí được bầu vào Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách công tác Tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên.
Từ năm 1948 đến năm 1950, đồng chí là Ủy viên Thường trực Thường vụ Tổng bộ Việt Minh.
Từ năm 1951 đến năm 1963, đồng chí là Trưởng Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt, sau đổi thành Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 1955, đồng chí được bầu bổ sung là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II.
Tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II, đồng chí được bầu là Phó Chủ tịch Quốc hội.
Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Từ tháng 6 năm 1962 đến tháng 5 năm 1963, đồng chí là Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ tháng 4 năm 1963 đến tháng 4 năm 1965, đồng chí là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Tháng 4 năm 1968, Bộ trưởng Xuân Thủy được cử làm Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam.
Ngày 9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng viên quốc tế tập trung tại sân bay Le Bourget đón Bộ trưởng Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Năm 1968, đồng chí được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa III.
Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và được bầu vào Ban Bí thư cho đến năm 1982. Đồng chí trực tiếp làm Trưởng Ban các ban: Đối ngoại Trung ương Đảng, Ban Cán sự Đảng ngoài nước, Ban Hoạt động quốc tế của Trung ương Đảng, Ban Công tác miền Tây, Ban Dân vận và Mặt trận Trung ương.
Từ tháng 2 năm 1974 đến tháng 7 năm 1976, đồng chí làm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.
Từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 7 năm 1976, đồng chí làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa V.
Từ tháng 7 năm 1976 đến tháng 7 năm 1981, đồng chí là Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa VI.
Đồng chí Xuân Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp Bí thư Trung ương Đảng Mặt trận giải phóng, Bộ trưởng Quốc vụ Cộng hòa Mozambique Rogiério Otaca Monteiro (15/10/1977). Ảnh: Xuân Lâm-TTXVN
Năm 1980, đồng chí là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Xô; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam; Hội trưởng Hội những người viết báo Việt Nam và làm Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tháng 7 năm 1981, tại kỳ họp Quốc hội khóa VII, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội.
Từ tháng 7 năm 1981 đến tháng 6 năm 1982, đồng chí là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước.
Ngày 18/6/1985, đồng chí từ trần.
Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Xuân Thủy là tấm gương về một trí tuệ và một nhân cách lớn với những cống hiến không mệt mỏi cho Đảng, cho đất nước và dân tộc. Nhắc về đồng chí Xuân Thủy, Tổng Bí thư Trường Chinh từng nói: “Anh Xuân Thủy có phong cách rất Bác Hồ… Ở anh Xuân Thủy, người ta thấy có sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và đức độ, giữa tính cách dân tộc truyền thống và văn minh thời đại”./.
Tư liệu (tổng hợp)