Hà Nội (TTXVN 18/1/2026)
Là một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Xuân Thủy là nhà lãnh đạo tài năng, đức độ và là biểu tượng của tinh thần yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Tổng Bí thư Trường Chinh từng nhận xét: “Anh Xuân Thủy có phong cách rất Bác Hồ… Ở anh Xuân Thủy người ta thấy có sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và đức độ, giữa tính cách dân tộc truyền thống và văn minh thời đại”.
Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn Chính phủ VNDCCH tại cuộc họp báo sau Phiên thứ 27 Cuộc nói chuyện chính thức giữa đại diện Chính phủ VNDCCH và đại diện Chính phủ Mỹ ở Paris, ngày 23/10/1968. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Đồng chí Xuân Thủy, tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, sinh ngày 2/9/1912 tại thôn Hòe Thị, tổng Phương Canh, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội), trong một gia đình nhà nho yêu nước. Sớm giác ngộ cách mạng, chàng thanh niên Xuân Thủy đã hăng hái tham gia các tổ chức yêu nước chống thực dân Pháp.
Dù bị địch bắt và tù đày nhưng đồng chí Xuân Thủy vẫn luôn tin tưởng vào sự nghiệp của Đảng, tích cực hoạt động trong các nhà lao, luôn hăng hái tuyên truyền cách mạng, không ngừng rèn giũa ý chí phấn đấu, học tập và vươn lên. Đồng chí từng kể: “Trong nhà tù đế quốc, chẳng biết ngày mai số phận ra sao những hễ nói đến học là ham thích, coi đó như lẽ sống, xác định dứt khoát còn sống ngày nào là phải học ngày đó, học gấp, học càng nhiều càng tốt, không chỉ học để mai đây nếu thoát khỏi nhà tù sẽ có đầy đủ hành trang để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, mà lỡ có chết cũng không mang tiếng là con ma vô học, như vậy chẳng khác nào để kẻ thù khinh thường và để tiếng xấu cho cách mạng”.
Năm 1941, đồng chí Xuân Thủy được kết nạp vào Đảng và được công nhận ngay là đảng viên chính thức. Năm 1944, sau khi ra tù, đồng chí hoạt động bí mật và được giao phụ trách báo “Cứu Quốc” của Tổng Bộ Việt Minh do Bác Hồ sáng lập và tham gia chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Xuân Thủy tiếp tục trải qua những chặng đường vô cùng vất vả, gian khó nhưng không kém phần sôi động và vẻ vang.
Trong công tác Đảng, từ năm 1945, đồng chí là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Từ năm 1955 đến năm 1982, đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Đảng (1968-1982), Trưởng Ban Dân vận Trung ương. Trải qua nhiều cương vị, đồng chí Xuân Thủy luôn hi sinh hết mình cho sự nghiệp của Đảng, lãnh đạo nhân dân kháng chiến cứu quốc cũng như trong việc tăng cường đoàn kết với giai cấp vô sản quốc tế.
Trong công tác Quốc hội, đồng chí Xuân Thủy có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, lập hiến và lập pháp của Quốc hội. Đồng chí là người giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị Tổng tuyển cử Quốc hội ngay từ khóa đầu tiên và liên tục là đại biểu Quốc hội từ khóa I (1946-1960) đến khóa VII (1981-1987). Đồng chí cũng là Ủy viên Thường trực, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký nhiều khóa, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước. Đồng chí Xuân Thủy đã trực tiếp tham gia soạn thảo các hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ và chủ trì việc soạn thảo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Đồng chí Xuân Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp Bí thư Trung ương Đảng Mặt trận giải phóng, Bộ trưởng Quốc vụ Cộng hòa Mozambique Rogiério Otaca Monteiro (15/10/1977). Ảnh: Xuân Lâm-TTXVN
Về công tác mặt trận, từ năm 1945 đến năm 1985, đồng chí Xuân Thủy là Trưởng Ban Tuyên truyền Tổng bộ Việt Minh (1945-1948); Ủy viên Thường vụ Tổng bộ Việt Minh (1948-1950); Trưởng Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt (1951-1954), Bí thư Đảng đoàn kiêm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1985). Đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt và thực hiện thắng lợi đường lối của Mặt trận Tổ quốc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Đồng chí cũng là một trong 10 cán bộ đầu tiên được tặng thưởng Huân chương vì Sự nghiệp Đại đoàn kết Dân tộc.
Đánh giá cao những đóng góp vô cùng to lớn của đồng chí trong công tác mặt trận, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khẳng định: “đồng chí Xuân Thuỷ là một trong những cán bộ thực hiện xuất sắc nhất đường lối đại đoàn kết dân tộc và chính sách Mặt trận thống nhất của Bác Hồ và của Đảng ta. Suốt 41 năm, từ lúc ra khỏi nhà tù Sơn La đến khi qua đời, đồng chí liên tục là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận”.
Với sự nghiệp báo chí, đồng chí Xuân Thủy có nhiều đóng góp hết sức quan trọng và là người có công lớn trong việc đào tạo lớp nhà báo đầu tiên cho kháng chiến. Đồng chí viết báo từ rất sớm, trước khi tham gia hoạt động cách mạng năm 1932. Trong nhà tù từ năm 1938-1944, đồng chí Xuân Thuỷ làm báo nhằm đoàn kết và động viên các tù nhân chính trị rèn luyện ý chí cách mạng, cùng nhau đấu tranh chống chế độ hà khắc của thực dân, đế quốc. Ở nhà tù Sơn La, đồng chí làm chủ bút báo “Suối Reo”, tờ báo bí mật của tù nhân chính trị.
Ngay sau khi cách mạng nước ta vừa giành thắng lợi trong những năm 1945-1946, báo “Cứu Quốc” do đồng chí Xuân Thủy làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là tờ báo hàng ngày duy nhất của cách mạng, là cơ quan ngôn luận hàng ngày của Mặt trận và của Đảng và tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chính trị, vạch trần mọi âm mưu của bọn đế quốc và phản động, cổ động quần chúng đứng lên bảo vệ cách mạng, chống giặc đói, giặc dốt và chuẩn bị sẵn sàng tham gia kháng chiến. Báo “Cứu Quốc” là tiền thân của báo Đại Đoàn Kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này.
Đồng chí Xuân Thuỷ cũng là nhà báo Việt Nam đầu tiên được bầu vào Ban Chấp hành Tổ chức Nhà báo Quốc tế (OIJ). Đối với những người làm báo Việt Nam, đồng chí là vị lãnh đạo có uy tín và gần gũi, như Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam đã đánh giá: “Đối với Hội Nhà báo Việt Nam, từ trước đến nay, đồng chí Xuân Thuỷ không chỉ là người sáng lập, vị trí Chủ tịch đầu tiên của Hội, mà mãi mãi là người thầy, người bạn, người anh gần gũi và thân thiết”.
Trong công tác ngoại giao, đồng chí Xuân Thủy đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Những lĩnh vực đối ngoại mà đồng chí từng trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt ngày nay đã trở thành các trụ cột quan trọng nhất của nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam. Đó là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân.
Đồng chí đã có công lớn trong việc đào tạo được nhiều cán bộ ngoại giao giỏi cho cả hai miền Bắc - Nam. Học tập và tiếp thu trí tuệ và kinh nghiệm của đồng chí Xuân Thủy, nhiều cán bộ ngoại giao xuất sắc của ngành đã trưởng thành và đi lên từ quá trình tham gia đàm phán Hiệp định Paris, viết tiếp trang sử vẻ vang của ngành, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến thủ đô Paris (Pháp), tiến hành cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Hoa Kỳ, ngày 9/5/1968. Ảnh: Văn Lượng – TTXVN
Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy (hàm Bộ Trưởng) chụp ảnh chung cùng cán bộ Phòng Thông tin của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP) tại Pháp, Paris năm 1970. Ảnh: TTXVN phát
Đặc biệt, khi nhắc đến Trưởng đoàn Xuân Thủy tại Hội nghị Paris về Việt Nam (từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973), người ta không thể không nói đến nhà ngoại giao “có nụ cười chiến thắng”. Suốt quá trình đàm phán kéo dài gần 5 năm tại Paris, trong khi Mỹ đã phải 4 lần thay đổi Trưởng đoàn, đồng chí Xuân Thủy được Đảng và Nhà nước tín nhiệm trao trọng trách Trưởng đoàn từ đầu đến cuối cuộc đàm phán. Thắng lợi của đàm phán Paris và Hiệp định Paris đã buộc đế quốc Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng miền Nam Việt Nam, mở đường cho Đại thắng Mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.
Ngày 9/5/1968, đông đảo kiều bào Việt Nam và nhân dân Paris cùng các phóng viên quốc tế tập trung tại sân bay Le Bourget đón Bộ trưởng Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Mỹ về hòa bình tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy cùng các đồng chí giúp việc đang chuẩn bị văn bản Hiệp định Paris (10/1972)
Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và các thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại buổi lễ ký kết (23/01/1973)
Có thể thấy, là một học trò có đức, có tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Đảng và Bác Hồ giao phó nhiều trọng trách, đồng chí Xuân Thủy luôn thể hiện phẩm chất cách mạng kiên trung, tài năng, trí tuệ của mình và có nhiều đóng góp, cống hiến hết sức to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.
Cuộc đời đồng chí trong mát như dòng nước mùa xuân, không ham hố tiền tài, chức vụ, nhiều lần hiến tặng nhà cửa, từ chối đề bạt, nhường lối cho hậu sinh. Đồng chí Xuân Thủy như một vì sao sáng mãi giữa lòng dân tộc, giữa quê hương, như trong một câu đối mà một vị hòa thượng đã viết tặng: “Xuân khứ, Xuân lai, Xuân bất tận/ Thủy lưu, Thủy chuyển, Thủy trường tồn”.
Tư liệu (tổng hợp)