Hà Nội (TTXVN 7/4/2026) Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026, phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là bước đi quan trọng, định hình một cách tiếp cận mới: đưa văn hóa số từ không gian giá trị tinh thần trở thành nguồn lực nội sinh, trực tiếp góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Ảnh tư liệu: TTXVN

* Văn hóa số - nền tảng hình thành nguồn lực phát triển

Trong nhiều thập kỷ, văn hóa Việt Nam được định hình chủ yếu trong không gian vật lý: di sản, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, bảo tàng, thư viện... Những giá trị ấy đóng vai trò nền tảng trong việc bảo tồn bản sắc và củng cố sức mạnh tinh thần của Nhân dân.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ số, một không gian văn hóa mới đã hình thành - không gian văn hóa số - nơi các giá trị văn hóa được số hóa, lan tỏa và tái tạo dưới những hình thức hoàn toàn khác. Trên nhiều phương diện, chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi cách thức bảo tồn, sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa.

Trước hết, công tác số hóa di sản văn hóa đã được triển khai ở nhiều địa phương, đơn vị. Nhiều bảo tàng, thư viện đã xây dựng cơ sở dữ liệu số, phát triển các hình thức trưng bày trực tuyến, ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo để tái hiện không gian văn hóa. Điều này không chỉ góp phần bảo tồn di sản một cách bền vững hơn, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Trong lĩnh vực nghệ thuật và sáng tạo, môi trường số đã tạo ra không gian phát triển mới. Các sản phẩm âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, nội dung số… ngày càng được sản xuất, phân phối trên các nền tảng trực tuyến, từng bước hình thành thị trường nội dung số với sự tham gia của nhiều chủ thể. Một số sản phẩm văn hóa số của Việt Nam đã bước đầu tiếp cận thị trường quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước.

Hệ thống thư viện, báo chí, truyền thông cũng có những chuyển biến rõ nét. Nhiều thư viện đã phát triển thư viện số, tài nguyên số; báo chí chuyển mạnh sang nền tảng số, đa dạng hóa hình thức thể hiện, mở rộng phạm vi tiếp cận công chúng. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành hệ sinh thái văn hóa số ban đầu.

Đáng chú ý, chuyển đổi số trong văn hóa còn góp phần thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền. Thông qua môi trường số, người dân ở vùng sâu, vùng xa có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, điều trước đây bị hạn chế bởi điều kiện địa lý và hạ tầng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, thực tiễn cũng cho thấy không ít hạn chế. Việc số hóa còn thiếu đồng bộ, hạ tầng công nghệ ở một số địa phương còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn nhân lực cho chuyển đổi số văn hóa còn thiếu và yếu, đặc biệt là đội ngũ có khả năng kết hợp giữa chuyên môn văn hóa và công nghệ. Bên cạnh đó, thị trường công nghiệp văn hóa số tuy đã hình thành nhưng quy mô còn nhỏ, chưa có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Việc khai thác giá trị kinh tế từ tài nguyên văn hóa số còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

* Xây dựng hệ sinh thái văn hóa số hiện đại, hội nhập

Ngày 4/4/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Mục tiêu xuyên suốt của Đề án là hiện đại hóa hệ sinh thái văn hóa số quốc gia, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, đồng thời đưa văn hóa số trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

Một trong những điểm nổi bật của Đề án là việc lượng hóa các mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Theo đó, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; toàn bộ di sản văn hóa được số hóa, chuẩn hóa và chia sẻ, trong đó 80% di sản văn hóa số có mã định danh. Ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa, lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Cùng với đó, 100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa phải được kết nối, đồng bộ dữ liệu; các đơn vị sự nghiệp công lập có lộ trình chuyển đổi số rõ ràng. Hệ thống thư viện, bảo tàng công lập được định hướng phát triển theo mô hình số, thông minh, có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu trong nước và quốc tế.

Ở góc độ tiếp cận của người dân, Đề án đặt ra mục tiêu bảo đảm 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và 80% xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi được tiếp cận các hoạt động văn hóa trên môi trường số. Đây không chỉ là mục tiêu về công nghệ, mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa của mọi người dân.

Đáng chú ý, yếu tố con người được đặt ở vị trí trung tâm khi 100% cán bộ, công chức, viên chức, văn nghệ sĩ và người học trong ngành được yêu cầu bồi dưỡng kỹ năng số. Đây là điều kiện then chốt để bảo đảm chuyển đổi số không chỉ dừng ở hạ tầng, mà thực sự đi vào vận hành.

Tầm nhìn đến năm 2045, Đề án hướng tới hình thành hệ sinh thái văn hóa số thông minh, có tính tương tác cao, góp phần lan tỏa văn hóa Việt Nam ra thế giới, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo được kỳ vọng trở thành trụ cột, đóng góp khoảng 9% GDP, trong đó sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm trên 80%.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Đề án đề ra hệ thống giải pháp mang tính nền tảng và đồng bộ. Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách - yếu tố có tính quyết định trong việc tháo gỡ các rào cản hiện nay. Cùng với đó là huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, trong đó nhấn mạnh vai trò của xã hội hóa và khu vực tư nhân.

Phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số văn hóa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm tạo ra đội ngũ có đủ năng lực triển khai các nhiệm vụ trong môi trường số. Song song với đó là phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn, an ninh mạng - điều kiện không thể thiếu trong bối cảnh dữ liệu văn hóa ngày càng có giá trị.

Hợp tác và hội nhập quốc tế cũng được đặt ra như một hướng đi quan trọng, nhằm tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ và mở rộng thị trường cho các sản phẩm văn hóa số của Việt Nam.

Đặc biệt, Đề án không dừng ở các giải pháp chung mà còn đưa ra định hướng cụ thể cho 8 lĩnh vực: di sản văn hóa; nghệ thuật biểu diễn và văn học; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; điện ảnh; thư viện; báo chí - truyền thông; văn hóa cơ sở; văn hóa các dân tộc thiểu số. Cách tiếp cận này cho thấy tính toàn diện và khả năng triển khai cụ thể trong từng lĩnh vực.

Có thể thấy, Quyết định số 611/QĐ-TTg đã tái định vị vai trò của văn hóa trong kỷ nguyên số, từ nền tảng tinh thần sang nguồn lực nội sinh cho phát triển. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Quyết định sẽ góp phần mở rộng không gian phát triển của văn hóa Việt Nam, đồng thời định hình văn hóa số như một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của đất nước./.

Minh Hiếu