Hà Nội (TTXVN 18/2/2026) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Hiệp định Geneva được ký kết (21/7/1954), đất nước tạm thời chia thành hai miền Nam Bắc với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Trước tình hình đó, với bản lĩnh và trí tuệ sáng suốt, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của bè bạn quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân và dân ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Đồng bào dân tộc Mán xem tranh cổ động bầu cử Quốc hội khóa II (1960). Ảnh: Vũ Tín - TTXVN

Trong bối cảnh mới của tình hình cách mạng ở hai miền Nam-Bắc, ngày 16/2/1960, Ban Thường trực Quốc hội quyết định ngày 8/5/1960 là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II trên toàn miền Bắc. Theo đó, ngày 8/5/1960 trở thành ngày hội lớn của nhân dân miền Bắc - Ngày bầu cử Quốc hội khóa II - cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó là cuộc bầu cử Quốc hội khóa III ngày 26/4/1964; cuộc bầu cử Quốc hội khóa IV ngày 11/4/1971 và cuộc bầu cử Quốc hội khóa V ngày 6/4/1975.

Nhìn chung, trong các cuộc bầu cử Quốc hội từ khóa II đến khóa V, hầu hết cử tri ở miền Bắc từ thành phố đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược đã nô nức đi bầu cử, thực hiện quyền làm chủ nước nhà, tự mình lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đồng thời, do điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, chưa tổ chức được tổng tuyển cử tự do trong cả nước, các đại biểu Quốc hội khóa I do cử tri các tỉnh miền Nam bầu được Quốc hội quyết định kéo dài trong nhiệm kỳ II và III.

Công nhân lái máy kéo Khu gang thép Thái Nguyên trao đổi, thảo luận bản danh sách các ứng cử viên quốc hội khóa II (4/1960). Ảnh: Hiệp Đồng - TTXVN

Kế tục sự nghiệp Quốc hội khóa I, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khóa II đến khóa V đã trải qua 16 năm hoạt động (1960-1976). Đây là giai đoạn đế quốc Mỹ từng bước thực hiện các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh ở miền Nam, từ năm 1965 đến năm 1972 - tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trong hoàn cảnh đó, tổ chức và hoạt động của Quốc hội từ khóa II trở đi có một bước tiến mới theo Điều 4 và Điều 50, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoạt động theo Điều 53 của Hiến pháp năm 1959. Ngày 10/4/1965, Quốc hội thông qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện một số quyền hạn của Quốc hội nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu khẩn trương của đất nước trong hoàn cảnh thời chiến.

 Dấu ấn nổi bật về tổ chức của Quốc hội giai đoạn này ngày 30/4/1963, tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa II quyết định lập Ủy ban Thống nhất của Quốc hội gồm 18 thành viên do ông Trần Huy Liệu làm Chủ nhiệm. Ủy ban Thống nhất của Quốc hội có nhiệm vụ giúp Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề đấu tranh nhằm thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Tiếp đó, Quốc hội các khóa, với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đã thực hiện các quyết sách để động viên toàn bộ sức người, sức của, tập trung mọi hoạt động đối nội và đối ngoại, tạo sức mạnh tổng hợp để kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước.

Với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thực hiện Điều 50 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, Quốc hội đã bầu các cơ quan Nhà nước, lập Chính phủ theo các nhiệm kỳ của Quốc hội các khóa II, III, IV và V. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa lần lượt quyết nghị kiện toàn, thành lập một số bộ mới và một số cơ quan ngang bộ của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm và điều động một số cán bộ cao cấp của Chính phủ, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở nước ngoài, quyết định phân chia địa giới các tỉnh, khu, thành phố, sáp nhập các tỉnh thành lớn để giảm bớt đầu mối, thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và các kế hoạch kinh tế lớn của Nhà nước.

Trong giai đoạn 1960-1976, Quốc hội thông qua kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) và các kế hoạch kinh tế ngắn hạn trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Tuy nhiên, việc thực hiện các kế hoạch kinh tế quốc dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp khi đế quốc Mỹ tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Mặc dù máu của cán bộ, công nhân và nông dân đổ xuống ngay trong xưởng máy, trên đồng ruộng, song vượt lên mọi khó khăn, ác liệt, nhân dân miền Bắc đã cơ bản hoàn thành các kế hoạch được Quốc hội thông qua, tạo sự chuyển biến nhiều mặt, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Lào và Campuchia.

 Về công tác lập pháp, từ khóa II đến khóa V, Quốc hội đã thông qua 7 đạo luật, chủ yếu là các luật về tổ chức của bộ máy Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao). Cùng với đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 18 Pháp lệnh. Tuy số lượng các luật và pháp lệnh được thông qua còn ít nhưng đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan quyền lực duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, qua đó từng bước kiện toàn bộ máy Nhà nước, mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính. tập trung bảo vệ Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhân dân.

 Về đối ngoại, dù trong điều kiện đất nước bị chiến tranh, nhưng Quốc hội các khóa đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của Quốc hội, Chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè thế giới đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp - sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược.

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở miền Nam năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đặc biệt đến năm 1969, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam đã bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh Chính phủ Cách mạng lâm thời, là người đại diện đầy đủ và trực tiếp của nhân dân miền Nam, thực thi sử mệnh lịch sử, trực tiếp động viên và huy động lực lượng tại chỗ cho cuộc chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ.

Trong suốt 16 năm hoạt động, Quốc hội luôn nhất trí thông qua các báo cáo, các kiến nghị, những hoạt động của Chính phủ trên các vấn đề trọng đại của đất nước. Quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ, với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao được duy trì chặt chẽ, đúng với quy định của Hiến pháp năm 1959. Ngược lại, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thường xuyên báo cáo với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những hoạt động của mình, góp phần để Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát tối cao, tạo nên sự nhất trí cao trong những vấn đề trọng đại của đất nước.

Tựu trung lại, hoạt động của Quốc hội khóa II, III, IV và V (1960-1976) diễn ra trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, chiến tranh gian khổ, ác liệt nhưng cũng hết sức vẻ vang. Được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp năm 1959, Quốc hội các khóa đã thông qua nhiều quyết sách đúng đắn, kịp thời, trực tiếp góp phần đưa sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đạt được nhiều thành tựu to lớn và cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đi đến thắng lợi cuối cùng, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của Nhân dân".

Tư liệu TTXVN