Hà Nội (TTXVN 12/4/2026) Gần 70 năm hoạt động cách mạng, cuộc đời và sự nghiệp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gắn liền với những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc, với sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong từng bước phát triển hôm nay, vẫn có thể nhận ra dấu ấn tư duy và bản lĩnh của ông - người đã từng mở đường cho dân tộc vượt qua thử thách.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (15 - 18/12/1986). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại chặng đường đã qua đó, không thể không nhắc đến vai trò và đóng góp to lớn, quan trọng của Tổng Bí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư đầu tiên của sự nghiệp đổi mới.

Những đột phá mở đường cho đổi mới

Tổng Bí Nguyễn Văn Linh từng giữ các trọng trách: Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ trong kháng chiến; Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày thống nhất đất nước; rồi được giao trọng trách làm Tổng Bí thư của Đảng năm 1986 - năm quan trọng đánh dấu mốc nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng ban cải tạo xã hội chủ nghĩa Trung ương, ông đã trăn trở, tìm cách tháo gỡ những khó khăn của Thành phố vừa mới được giải phóng, trăn trở về hiệu quả đối với sự phát triển đất nước của biện pháp cải tạo các thành phần kinh tế, về cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, mệnh lệnh hành chính kéo dài đã đưa đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Với tâm huyết và ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân, ông đã ủng hộ, khuyến khích những sáng tạo, tìm cách làm ăn mới của nhân dân, của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố với tinh thần "đấu tranh cho cái mới cũng đòi hỏi phải dũng cảm, hy sinh... Việc gì có lợi cho đất nước, có lợi cho nhân dân, các đồng chí cứ yên tâm mà làm". Kết quả, chỉ sau một thời gian, nền kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước chuyển biến rõ rệt, mang tính đột phá. Hàng chục nghìn cơ sở sản xuất nhỏ và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình bị đình trệ trước đó đã được khôi phục và hoạt động trở lại. Những thành tựu về sự năng động, sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển sản xuất kinh doanh đã góp phần đưa Thành phố sớm trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước. Bằng những việc làm đó, ông đã góp phần tích cực vào việc hình thành đường lối đổi mới của đất nước.

Đến tháng 6/1985, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám khóa V đã ra Nghị quyết chính thức xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp, chuyển sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ thay đổi chính sách về giá cả, tiền lương và tiền tệ.

Cũng tại Hội nghị này, ông được bầu vào Bộ Chính trị. Tháng 6/1986, ông được bầu vào Ban Bí thư và được phân công Thường trực Ban Bí thư. Với sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh, Bộ Chính trị đã họp (tháng 8/1986) và đi tới những kết luận quan trọng, nhấn mạnh đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và 3 chương trình kinh tế lớn.

Đại hội VI của Đảng đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư. Với tầm tư duy chiến lược nhạy bén, vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách nhuần nhuyễn, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nêu ra và kiên trì thực hiện đổi mới có nguyên tắc - đổi mới nhưng luôn luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

"Kiến trúc sư trưởng" của sự nghiệp đổi mới

Trên cương vị là Tổng Bí thư, ông đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân triển khai thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Là một trong những người khởi xướng và tích cực chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới, đồng chí luôn khẳng định: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà để đạt tới mục tiêu đó; phải có những hình thức, phương pháp và bước đi phù hợp với quy luật; đổi mới phải có tính nguyên tắc, mà nguyên tắc hàng đầu là phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Tại các lớp học của cán bộ quán triệt Nghị quyết Đại hội VI, các Hội nghị

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thăm công trường thủy điện Hòa Bình trên Sông Đà tại cao trình 123 bên bờ phải (3/5/1987). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Trung ương 6, Trung ương 7 (khoá VI), ông nhiều lần khẳng định: Đảng ta chủ trương từng bước đổi mới toàn diện và triệt để, trọng tâm là đổi mới kinh tế, đồng thời đổi mới tổ chức, cán bộ, phương thức hoạt động của cả hệ thống chính trị một cách phù hợp. Ông luôn quán triệt quan điểm: “Đổi mới là cách mạng”, muốn thắng lợi, phải quyết tâm, phải có phương pháp đúng, phù hợp, đồng thời có sự đột phá. Trước hết là “đột phá” trên mặt trận tư tưởng, đồng chí đã sử dụng báo chí làm “vũ khí lý luận” để tấn công, đả phá tư tưởng trì trệ, lạc hậu và tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng..

Đó là những quyết sách nhằm ổn định kinh tế để phát triển và ổn định tình hình mọi mặt của đất nước, từng bước tháo gỡ khó khăn; thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Cùng với đó, đổi mới khâu lưu thông, phân phối, tích cực vận động kinh tế, từng bước phá vỡ thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch; đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thể hiện qua việc xác định, Đảng phải đổi mới nhiều mặt như tư duy kinh tế, đổi mới về tổ chức, đội ngũ cán bộ, phong cách lãnh đạo, mọi mặt công tác.

Đặc biệt, từ kinh nghiệm trong những năm tháng lăn lộn tìm hiểu thực tế cùng người dân khi giữ cương vị Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị, đánh giá mặt được và hạn chế sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” trong nông nghiệp và đi tới Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 5/4/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân với quy mô hợp lý và ổn định trong 15 năm.

Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông nghiệp. Kinh tế hộ trong nông nghiệp tạo ra động lực mới cho sự phát triển nền kinh tế. Vụ mùa năm 1988 được mùa lớn. Cuối năm 1988, nước ta thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, bỏ chế độ phân phối theo định lượng bởi tem phiếu. Từ nền kinh tế hiện vật chuyển dần sang kinh tế hàng hóa, điều tiết theo thị trường với sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước.

Chỉ sau 1 năm, đến năm 1989, Việt Nam từ nước thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực, đã không chỉ bảo đảm nhu cầu lương thực trong nước mà còn trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực thứ ba trên thế giới. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, mở đầu cho sự ổn định và gia tăng về lương thực của đất nước, sớm giải quyết thành công vấn đề an ninh lương thực, góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị đất nước.

Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí đã khởi xướng công cuộc đấu tranh chống tiêu cực trên mặt trận báo chí với phương châm: Báo chí không được uốn cong ngòi bút.

Từ ngày 25/5/1987 đến 28/9/1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có 31 bài báo với nhan đề “Những việc cần làm ngay”, đề cập chủ yếu đến việc chống tiêu cực, phê phán các hành vi quan liêu, vô trách nhiệm, lãng phí, hách dịch, tham nhũng, ức hiếp quần chúng... Loạt bài viết này đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong xã hội, với bầu không khí công khai, cởi mở, dân chủ, dám nói thẳng, nói thật trong những năm đầu đổi mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũng rất coi trọng tư duy mới trong quan hệ đối ngoại. Dưới sự chỉ đạo của ông, ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về đổi mới tư duy, điều chỉnh đường lối đối ngoại, tập trung giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển kinh tế.

Trên cương vị là Tổng Bí thư, ông đã chủ trương và trực tiếp tham gia thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam-Trung Quốc, giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia, tạo dựng môi trường hòa bình hữu nghị và ổn định trong khu vực, tạo cơ sở để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, nối lại quan hệ với các nước Tây Âu; tạo cơ sở thuận lợi cho việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Mỹ, phá thế bị bao vây cấm vận, giữ vững độc lập, chủ quyền của đất nước.

Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gặp gỡ, nói chuyện với nông dân Hợp tác xã Tùng Phong, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, trong chuyến thăm, làm việc tại tỉnh Nghệ Tĩnh (23 - 27/5/1990). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Sau Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991), ông trở thành Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi từ trần năm 1998.

Trên cương vị cố vấn, đồng chí tiếp tục đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố độc lập chủ quyền dân tộc dựa trên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ đối ngoại trong thời kỳ kết thúc Chiến tranh Lạnh, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, ông cùng Trung ương chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những công lao và cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận: “Từ tổng kết thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, đồng chí đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả vào việc thiết kế đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước… Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng tập thể lãnh đạo nhạy bén, chủ động, sáng tạo khôn khéo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những bước hiểm nghèo của thời kỳ xảy ra những biến động to lớn trên thế giới; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” (Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Lê Khả Phiêu đọc tại Lễ truy điệu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ngày 29/4/1998)./.

Phương Phương