Hà Nội (TTXVN 27/2/2026)
Cách đây 71 năm, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc, đặt nền móng tư tưởng cho sự hình thành Ngày Thầy thuốc Việt Nam. Bức thư đã khái quát sâu sắc triết lý nghề y: đoàn kết, nhân văn và khoa học. 71 năm qua, lời dạy “Lương y như từ mẫu” không chỉ là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà còn trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển của nền y tế Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với giảng viên, sinh viên trường Đại học Y Dược Hà Nội (14/1/1955). Ảnh: Tư liệu TTXVN
* “Lương y phải như từ mẫu”
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến ngành Y tế nước nhà. Từ thư gửi Hội nghị Quân y năm 1948, thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953 đến bức thư ngày 27/2/1955, Người nhiều lần nhấn mạnh sứ mệnh kép của người thầy thuốc là: chữa bệnh và nâng đỡ tinh thần người bệnh. Theo Người, nghề y không chỉ là chuyên môn mà còn là trách nhiệm đạo đức, gắn liền với lòng nhân ái và tinh thần phục vụ Nhân dân.
Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh “lương y phải như từ mẫu” đã vượt khỏi phạm vi lời căn dặn cá nhân để trở thành chuẩn mực văn hóa nghề nghiệp. Đó là sự kết hợp giữa khoa học và nhân văn, giữa chuyên môn và đạo đức. Người không chỉ yêu cầu giỏi nghề mà còn nhấn mạnh đoàn kết nội bộ ngành, coi mọi vị trí trong hệ thống y tế đều là mắt xích quan trọng phục vụ mục tiêu chung.
Chính nền tảng tư tưởng “lương y phải như từ mẫu” đã giúp ngành Y tế Việt Nam hình thành bản sắc riêng: phát triển khoa học kỹ thuật nhưng luôn đặt con người làm trung tâm. Trong mọi giai đoạn lịch sử, chiến tranh, tái thiết đất nước hay hội nhập quốc tế, giá trị này vẫn giữ nguyên ý nghĩa định hướng.
Kíp phẫu thuật của Bệnh viện Quân y 103 thực hiện thành công ca ghép phổi đầu tiên từ người sống. Ảnh (tư liệu): Dương Ngọc - TTXVN
* Không ngừng để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Trải qua 71 năm phát triển, ngành y tế Việt Nam không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của Nhân dân.
Việt Nam hiện có hơn 1.800 bệnh viện, trong đó có 384 bệnh viện tư nhân. Hệ thống y tế đã phát triển mạnh mẽ, bao phủ từ trung ương đến địa phương, đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận dịch vụ y tế.
Cùng với mạng lưới cơ sở y tế phát triển rộng khắp, Việt Nam cũng đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại. Những thiết bị y tế hiện đại như máy CT, MRI, hệ thống nội soi và phòng mổ tiêu chuẩn quốc tế được đưa vào sử dụng, giúp nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị các bệnh phức tạp. Các bệnh viện lớn như Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, 108, Chợ Rẫy... đã triển khai nhiều kỹ thuật y khoa tiên tiến như ghép tạng, phẫu thuật robot, điều trị ung thư bằng công nghệ hiện đại… Việc triển khai công nghệ tiên tiến không chỉ nâng cao hiệu quả điều trị, giúp người bệnh giảm chi phí khi được chữa trị ngay trong nước, mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển của y học thế giới.
Việt Nam cũng đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác chuyên môn cũng như trong công tác quản lý, góp phần thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ y tế, cải thiện trải nghiệm của người bệnh...
Đặc biệt, Việt Nam làm chủ nhiều kỹ thuật y học hiện đại. Việt Nam đã thực hiện thành công hàng nghìn ca ghép tạng, phát triển mạnh các lĩnh vực như phẫu thuật tim mạch, thần kinh, ung thư học và phẫu thuật bằng robot. Trong đó, các bác sĩ Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều ca ghép tạng từ người hiến chết não, một kỹ thuật đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị y tế. Trong lĩnh vực thần kinh, các bác sĩ Việt Nam cũng đã thực hiện thành công nhiều ca phẫu thuật phức tạp, bao gồm phẫu thuật u não, dị dạng mạch máu não và các bệnh lý cột sống. Trong lĩnh vực tim mạch, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong phẫu thuật tim hở, can thiệp mạch vành và thay van tim. Đặc biệt, việc sản xuất thành công stent (giá đỡ động mạch) trong nước đã giúp giảm chi phí điều trị và tăng khả năng tiếp cận của bệnh nhân.
Trong điều trị ung thư, các kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến, như phẫu thuật nội soi và phẫu thuật robot, đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng và tuyến giáp... Việc này giúp giảm thiểu tổn thương mô lành, rút ngắn thời gian hồi phục và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Song song với điều trị, công tác y tế dự phòng tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng. Những thành công trong phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm, như SARS, cúm A/H1N1, Ebola và gần đây nhất là đại dịch COVID-19, cho thấy năng lực tổ chức và phản ứng nhanh của hệ thống y tế.
Trong bối cảnh mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc tiếp tục giữ vững y đức, nâng cao năng lực chuyên môn và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ sẽ là chìa khóa để ngành Y tế phát triển bền vững. Và lời dạy “Lương y như từ mẫu” vẫn sẽ là kim chỉ nam để mỗi người thầy thuốc Việt Nam tiếp tục sứ mệnh cao cả: bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, góp phần xây dựng đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.
Duyên Dung