Hà Nội (TTXVN 10/12/2020)
Danh nhân Chu Văn An là nhà giáo dục lớn, người thầy mẫu mực, tâm huyết, người có kiến thức uyên thâm và nhân cách cương trực, thanh cao. Người Việt Nam qua các thế hệ đều tôn xưng ông là “Vạn Thế Sư Biểu” - “Người Thầy của muôn đời”.
Tháng 11/2019, Chu Văn An được Đại hội đồng UNESCO thế giới vinh danh và ra Nghị quyết cùng Việt Nam kỷ niệm 650 năm ngày mất vào năm 2020. Cùng với Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Đại thi hào Nguyễn Du, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thầy Chu Văn An là người Việt Nam thứ tư được UNESCO vinh danh. Đây là sự khẳng định mang tầm quốc tế đối với tài năng, tầm ảnh hưởng của danh nhân văn hóa Chu Văn An nói riêng và những giá trị văn hóa, giáo dục của Việt Nam nói chung.
* Người thầy mẫu mực
Danh nhân Chu Văn An sinh năm 1292 tại làng Quang, thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội). Ông có tên tự Linh Triệt, tên hiệu Tiều Ẩn. Ngay từ nhỏ, tuy xuất thân trong một gia đình bình thường nhưng Chu Văn An được mẹ là bà Lê Chiêm lo cho ăn học chu đáo. Vốn hiếu học, lại coi việc học làm đầu nên Chu Văn An học rất giỏi, “học vấn tinh thuần, tiếng đồn gần xa” như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã nêu. Khi đỗ Thái học sinh (học vị Tiến sĩ thời nhà Trần), ông không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà, mong mỏi đào tạo nên những thế hệ học trò có đủ tài đức để đóng góp cho đất nước.
Tâm huyết với nghề dạy học, không màng danh lợi, Chu Văn An bắt đầu sự nghiệp với một mái tranh đơn sơ ở làng Huỳnh Cung, giáp với làng Quang quê mẹ. Tuy là trường ở làng quê, nhưng cũng có thư viện, thầy Chu dạy học trò từ hạng ấu học, mộng học, trung tập và đại tập (tương đương với vỡ lòng, tiểu học, trung học và đại học), tùy theo mỗi hạng mà thầy Chu có cách dạy khác nhau, nhưng tài liệu giảng dạy cơ bản vẫn là những sách kinh điển của Nho gia (Tứ thư, Ngũ kinh).
Nghe danh thầy Chu tài năng và đức độ, học trò khắp nơi tìm về trường Huỳnh Cung theo học rất đông. Thầy Chu rất nghiêm khắc trong việc dạy bảo môn sinh, ngoài việc giảng dạy về kiến thức, thầy còn chú trọng rèn luyện học trò về đạo lý sống, nhân cách làm người và hơn cả là giúp mỗi môn sinh thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đất nước. Trường Huỳnh Cung đào tạo được rất nhiều trò giỏi. Khoa thi năm 1314, dưới thời vua Trần Minh Tông, trường có hai học trò đỗ Thái học sinh là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh, cả hai đều làm quan dưới triều Trần (Lê Quát được thăng đến chức Thượng thư).
Một trong những nguyên tắc cốt yếu để cảm hóa học trò của thầy Chu Văn An chính là: muốn dạy bảo trò tốt thì thầy phải nghiêm, phải luôn là tấm gương đạo đức cho học trò. Những môn sinh do thầy Chu Văn An đào tạo, dù làm quan to hay vinh hiển đến mức độ nào cũng luôn dành cho thầy một sự tôn kính và lễ độ. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép lại việc các đại quan trong triều là học trò của thầy vẫn giữ lễ, khi đến thăm thầy thì lạy, được tiếp chuyện với thầy thì lấy làm vui mừng. Ngược lại, có những học trò làm đến quan to nhưng không giữ được phẩm hạnh “thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la thét không cho vào”. Sự nghiêm minh này càng khiến ông được học trò kính mến.
* Tiết tháo một minh sư
Danh tiếng của thầy giáo Chu Văn An vang xa. Đến thời vua Trần Minh Tông, ông được mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, trông coi việc học của cả nước và trực tiếp kèm cặp Thái tử. Thầy Chu Văn An nghĩ rằng dạy dỗ một ông vua tương lai đấng minh quân sẽ đem lại lợi ích cho đất nước. Chính vì vậy, Trần Hiến Tông (học trò của ông) khi ở ngôi vua “không có việc làm lầm lỗi”, bởi “có bầy tôi hiền giúp việc chính sự, trên dưới đều cùng nhau sửa sang” (theo Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú). Đồng thời, ông còn chăm lo việc mở mang Quốc Tử giám - trường đại học đầu tiên của nước ta. Ông viết: “Tứ thư thuyết ước”, tóm tắt 4 bộ sách lớn: “Luận ngữ”, “Mạnh tử”, “Đại học”, “Trung dung” làm giáo trình giảng dạy trong trường. Đây được coi như bộ sách giáo khoa giảng dạy Nho giáo của người Việt Nam.
Đến thời vua Trần Dụ Tông, chứng kiến chính sự rối ren, gian thần lộng hành, Chu Văn An dâng "Thất trảm sớ” xin vua trừng trị bảy gian thần lộng hành triều đình. Tuy nhiên, “Thất trảm sớ” đã không được vua Dụ Tông chấp nhận, Chu Văn An bèn treo ấn từ quan, về sống ẩn dật ở vùng núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu Tiều Ẩn (nghĩa là người đi ẩn hái củi) tiếp tục sự nghiệp "trồng người".
Mặc dù về nơi xa ở ẩn nhưng học trò của ông đến học không hề giảm, bởi tầm ảnh hưởng của ông thật lớn. Ngoài việc dạy học, thầy Chu còn trồng cây thuốc, nghiên cứu y học, chữa bệnh cho dân và làm thơ, viết sách. Sử sách còn ghi lại những cuốn sách của ông là “Y học yếu giải”, “Quốc ngữ thi tập”, “Tiều Ẩn thi tập” và một số tác phẩm thơ ca bằng cả chữ Hán và chữ Nôm… Thơ ông nói lên tình yêu thiên nhiên, đất nước, nói lên tâm sự của ông đối với sơn hà, xã tắc và ý thức của kẻ sỹ đối với thời cuộc.
Nhiều lần vua Trần Dụ Tông và sau này là Trần Nghệ Tông mời ông trở về triều nhưng ông đều từ chối. Tuy nhiên, là một người tâm huyết với đời nên những khi có triều hội, ông vẫn về kinh tham dự. Lúc đã 77 tuổi, khi Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dương Nhật Lễ, ông cũng chống gậy về Thăng Long chúc mừng, rồi lại về Chí Linh, lấy cớ là già nua đau yếu để từ chối chức tước. Không lâu sau, Chu Văn An ốm, mất ngày 14/12/1370, thọ 79 tuổi.
Trân trọng tài năng, nhân cách và sự cống hiến lớn của ông, vua Nghệ Tông đã truy tặng tước hiệu Văn Trinh Công, ban tên thụy là Khánh tiết và được đưa vào thờ tự tại Văn Miếu, nơi thờ tự của các bậc thánh hiền. Tên tuổi của ông đi vào lịch sử dân tộc như một bậc nho học tiêu biểu của nước Việt, một tấm gương sáng về đạo làm người, đạo làm thầy và đạo học. Bàn về Chu Văn An, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, biết giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc”. Còn Sử gia Phan Huy Chú ca ngợi Chu Văn An là “Làng nho nước Việt, trước sau chỉ có một ông, các người khác không ai so sánh được”.
Để tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhiều nơi trong nước có di tích thờ phụng ông, như: đền Thanh Liệt, đền Huynh Cung, đền Văn Điển và đền Phượng Sơn ở Chí Linh, Hải Dương, nơi ông về sống ẩn và dạy học, ở nơi đây có dựng cột đá khắc 8 chữ: "Chu Văn Trình tiên sinh ẩn cư xứ". Nhân dân Thủ đô cũng đã lấy tên ông để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội.
Có thể nói, trong lịch sử giáo dục nước nhà, thầy Chu Văn An đã giành được địa vị cao quý bậc nhất, là tấm gương tiêu biểu và toàn diện để các thế hệ nhà giáo muôn đời sau noi theo. Đúng như nhà sử học Phan Huy Chú đã từng ngợi ca sự nghiệp có ý nghĩa “vượt thời đại” của thầy Chu Văn An là “làm thầy giáo giỏi của một đời, để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời”./.
Diệp Ninh (tổng hợp)