Hà Nội (TTXVN 6/1/2026) Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hòa, Chín Hòa, Sáu Nam), sinh ngày 01/12/1920 tại làng Trường Hà, huyện Phú Vang; quê quán tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (địa danh này nay thuộc Thành phố Huế). Trải qua những bước ngoặt vĩ đại của dân tộc, đồng chí đã khắc tên mình vào lịch sử như một biểu tượng của ý chí tự học và tư duy chiến lược đỉnh cao. Trên các cương vị Ủy viên Bộ Chính trị (khóa V, VI, VII, VIII) và Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, những cống hiến của đồng chí đã tạo dựng nền móng vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân thời kỳ hội nhập.

1. Trưởng thành từ phong trào công nhân và dấu ấn xây dựng căn cứ địa Nam Bộ

Khác với nhiều vị tướng cùng thời, cuộc đời cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh gắn liền với một trường học thực tiễn vô cùng đặc biệt: phong trào công nhân ở các đồn điền cao su vùng Đông Nam Bộ. Tham gia cách mạng từ năm 1937 tại quê nhà Thừa Thiên Huế, nhưng chính những năm tháng lăn lộn, nếm mật nằm gai tại các đồn điền Lộc Ninh, Quản Lợi, Xa Cát dưới ách áp bức của thực dân Pháp đã rèn luyện nên bản lĩnh của người chiến sĩ Sáu Nam.

Tại đây, đồng chí đã khéo léo tổ chức các nghiệp đoàn cao su, xây dựng lực lượng tự vệ mật độc lập, tạo bước chuẩn bị quan trọng cho cuộc đấu tranh vũ trang. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính lực lượng công nhân cao su do đồng chí tổ chức đã trở thành mũi nhọn làm chủ tình hình, kịp thời giải phóng hoàn toàn các huyện Hớn Quản, Bù Đốp (tỉnh Bình Phước ngày nay), thiết lập chính quyền cách mạng sơ khai ở phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một.

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với tư cách là Tham mưu trưởng các khu chiến lược như Khu 7, Khu 8 rồi Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí Lê Đức Anh đã bám sát thực tiễn chiến trường Nam Bộ – nơi xa Trung ương, bị chia cắt và bao vây bốn bề. Từ thực tế đó, đồng chí đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý báu về chiến tranh nhân dân, cách thức tổ chức lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) phù hợp với địa hình sông ngòi, rừng rậm. Những trải nghiệm xương máu ở Nam Bộ thời kỳ này chính là bệ phóng quan trọng giúp đồng chí hình thành tư duy quân sự sắc sảo, thực dụng nhưng vô cùng hiệu quả trong giai đoạn chống Mỹ sau đó.

2. Người kiến tạo lối đánh tinh nhuệ và tư duy hiện đại hóa Quân đội nhân dân

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đồng chí Lê Đức Anh tập kết ra Bắc và được giao các trọng trách tại Bộ Tổng Tham mưu như Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Quân lực, rồi Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Giai đoạn này, đồng chí đã đóng góp to lớn vào việc tổ chức lại lực lượng, xây dựng quân đội tiến từng bước lên chính quy, hiện đại, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam.

Khi trở lại chiến trường B2 (miền Nam) vào năm 1964, trên cương vị Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, đồng chí Lê Đức Anh đã đối mặt trực tiếp với học thuyết "chiến tranh cục bộ" của quân đội Mỹ với vũ khí, khí tài hiện đại tối tân. Trước một đối thủ mạnh về không quân và pháo binh, đồng chí đã có những đề xuất mang tính bước ngoặt về mặt nghệ thuật chiến dịch. Điển hình như trong cuộc phản công Gian-xơn Xi-ti (mùa khô 1966 - 1967) của Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu, ông đã đề xuất ý tưởng táo bạo: tổ chức các "huyện căn cứ", "xã căn cứ" để đánh địch tại chỗ, phát huy cao độ ưu thế của du kích chiến kết hợp với chủ lực cơ động. Quyết sách này đã tạo nên "thế trận chiến tranh nhân dân trên một địa bàn không có dân", bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân quy mô lớn của địch.

Đặc biệt, tại chiến trường Quân khu 9 giai đoạn sau Hiệp định Paris 1973, khi địch điên cuồng thực hiện chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" tại Chương Thiện, Tư lệnh Lê Đức Anh đã thể hiện sự nhạy bén chính trị - quân sự tuyệt vời và tinh thần dám chịu trách nhiệm trước lịch sử. Dù chưa có chủ trương chính thức từ cấp trên về việc mở rộng tiến công quân sự, ông vẫn kiên quyết chỉ đạo lực lượng vũ trang chủ động tiến công đập tan các cuộc lấn chiếm của địch thay vì co cụm phòng ngự thụ động, bẻ gãy âm mưu của 75 tiểu đoàn địch.
Tư duy chủ động tiến công, phát triển lối đánh tinh nhuệ áp sát này không chỉ giữ vững vùng giải phóng mà còn tạo thế và lực vững chắc để ông chỉ huy Cánh quân hướng Tây - Tây Nam (Đoàn 232) đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và Biệt khu Thủ đô, góp phần vào thắng lợi trọn vẹn của Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân năm 1975.

3. Tầm nhìn chiến lược về quốc phòng toàn dân và bảo vệ chủ quyền biển đảo thời kỳ mới

Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, Đại tướng Lê Đức Anh kiên quyết chỉ đạo Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp cùng quân dân Campuchia đánh bại tập đoàn Pôn Pốt, giúp bạn hồi sinh đất nước và tự chủ xây dựng thực lực cách mạng.

Bước vào thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987 - 1991), ông đã lãnh đạo cuộc cải tổ chiến lược: tinh giảm biên chế quân đội thường trực nhưng nâng cao sức mạnh chiến đấu, điều chỉnh bố trí lực lượng (như đưa Quân đoàn 3 lên Tây Nguyên), kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng.

Di sản nổi bật nhất của ông giai đoạn này là tầm nhìn bảo vệ chủ quyền biển đảo:

Quần đảo Trường Sa: Ngày 06/11/1987, ông ký Mệnh lệnh số 1679/ML-QP đóng giữ các bãi cạn chưa có người (Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ).

Tháng 5/1988, ông trực tiếp ra thị sát và thực hiện Lời thề giữ đảo bất tử tại đảo Trường Sa Lớn. Nhà giàn DK1: Ngày 29/05/1989, ông ký Mệnh lệnh số 167/ML-QP bảo vệ thềm lục địa, khẳng định và bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển rộng 60.000 $km^2$ theo Luật Biển quốc tế.

Lời kết Di sản mà Đại tướng Lê Đức Anh để lại cho thế hệ mai sau không chỉ là những chiến công hiển hách, những quyết sách ngoại giao lịch sử mà còn là tấm gương sáng ngời về một nhân cách cao đẹp. Từ một người thanh niên yêu nước xuất thân từ làng quê nghèo xứ Huế, trải qua thực tiễn đấu tranh phong phú, ông đã vươn lên thành một nhà quân sự lỗi lạc, một chính trị gia tầm cỡ của Đảng và Nhà nước.

Sự ra đi của ông vào ngày 22/04/2019 đã để lại niềm tiếc thương vô hạn, nhưng những bài học về tư duy chiến lược, tinh thần bám sát thực tiễn và lòng kiên trung, quyết đoán của "anh Sáu Nam" vẫn luôn là kim chỉ nam quý báu cho thế hệ hôm nay trong sự nghiệp xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ vững chắc của Tổ quốc./.

Tư liệu