Hà Nội (TTXVN 1/4/2026) Cuộc đời của Tổng Bí thư Lê Duẩn là một tấm gương sáng ngời về phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho lý tưởng cộng sản. Gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Quang cảnh buổi tọa đàm khoa học: "Đồng chí Lê Duẩn - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và cách mạng Việt Nam", do Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) tổ chức, ngày 6/4/2022. Ảnh: Văn Điệp/TTXVN
Đồng chí Lê Duẩn, tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 trong một gia đình, làng quê có truyền thống yêu nước và hiếu học tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, người thanh niên Lê Văn Nhuận đã nổi tiếng chăm học và sự thông minh, nói tiếng Pháp thông thạo nên dân trong vùng quen gọi với cái tên gần gũi là cậu Thông Nhuận.
Xác định được con đường mình sẽ đi, người thanh niên Lê Văn Nhuận thoát ly gia đình bắt đầu con đường hoạt động cách mạng. Năm 1928, đồng chí tham gia nhóm Ái Quốc, cuối năm đó, đồng chí được điều ra làm việc tại ga Hà Nội. Đầu năm 1930, đồng chí Lê Duẩn được kết nạp Đảng và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau Hội nghị Trung ương (tháng 10 năm 1930), đồng chí được phân công làm Ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc Kỳ.
Ngày 20/4/1931, cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ tại nhà số 8, ngõ Quảng Lạc, Hải Phòng bị lộ, đồng chí bị mật thám bắt và tra tấn dã man. Mặc dù không tìm ra manh mối, nhưng thực dân Pháp vẫn kết án đồng chí 20 năm tù cấm cố với tội danh âm mưu xúi giục quần chúng nổi loạn và đưa về giam tại nhà tù Hỏa Lò.
Trong lao tù, sự tàn bạo của kẻ thù không làm đồng chí khuất phục; trái lại, càng tôi luyện thêm ý chí, rèn đúc thêm trí tuệ và phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng, làm cho đồng chí trở thành người lãnh đạo kiên cường, được nhân dân tin yêu, bạn bè đồng chí cảm phục.
Tại nhà tù Hoả Lò, đồng chí cùng bị giam với các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Khuất Duy Tiến, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Tạo, Đặng Việt Châu và nhiều đồng chí khác đã thành án từ các địa phương chuyển về đợi ngày đi đến các nhà tù: Sơn La, Côn Đảo, Lao Bảo. Đều là những đảng viên từng giữ vai trò lãnh đạo trong các chi bộ đảng bên ngoài nên khi bị bắt vào tù, đồng chí Lê Duẩn cùng anh em nghĩ ngay đến việc thành lập Chi bộ Đảng.
Khoảng cuối năm 1931 đầu năm 1932, Chi bộ Đảng trong nhà tù Hỏa Lò được thành lập do đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Bí thư. Chi bộ lãnh đạo tù chính trị thông qua các tổ chức quần chúng như: Hội Lao tù, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ. Sự ra đời của Chi bộ Đảng trong nhà tù Hỏa Lò đã đưa các phong trào đấu tranh của tù nhân đi vào quy củ, chặt chẽ, hình thức từ thấp đến cao. Với vai trò đảng viên, đồng chí Lê Duẩn đã tích cực tuyên truyền, giác ngộ phát huy tinh thần, chí khí của người cách mạng, khắc phục tư tưởng bi quan, dao động của một số anh em tù nhân.
Đầu năm 1932, đồng chí được Chi bộ tín nhiệm, phân công làm Chủ bút tờ Đuốc đưa đường. Nội dung của tờ báo hướng đến việc tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng; vận động tù nhân đấu tranh, đi theo con đường cách mạng đúng đắn do Đảng lãnh đạo.
Thông qua các bài viết của mình, đồng chí đã đưa ra nhiều luận điểm sắc bén bác bỏ quan điểm sai trái về giai cấp và đấu tranh giai cấp, vạch rõ những quan điểm mơ hồ, lý thuyết viển vông của tư tưởng quốc gia hẹp hòi. Đồng thời, bày tỏ rõ mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản là thực hiện cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới do giai cấp công nhân lãnh đạo, giải phóng người lao động, giành độc lập cho đất nước…
Cùng với việc phụ trách phát hành các tờ báo trong tù, đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Trọng Đàm, Lương Khánh Thiện là những người tích cực hướng dẫn anh em tù nhân học tập chính trị, văn hóa, trau rồi lý tưởng cách mạng. Các tài liệu đã được truyền cho nhau học trong nhà tù là: Luận cương chính trị, Cộng sản vấn đáp, Lao nông chủ nghĩa, Cách mạng thế giới….
Đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí đảng viên cốt cán còn thành lập Ủy ban đấu tranh trong nhà tù.
Năm 1933, nhằm cách ly các tù nhân “nguy hiểm” với tù nhân mới vào nhà tù, đồng chí Lê Duẩn cùng với nhiều tù chính trị khác bị thực dân Pháp đưa đi đày tại nhà tù Sơn La. Cuối năm 1933, thực dân Pháp chuyển đồng chí Lê Duẩn cùng nhiều tù chính trị về lại nhà tù Hoả Lò rồi lại đày đi nhà tù Côn Đảo. Tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục tham gia đấu tranh, duy trì nề nếp sinh hoạt, học tập trong lao tù.
Năm 1936, do cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận nhân dân ở Pháp, chính quyền thực dân ở Đông Dương buộc “ân xá” cho nhiều tù chính trị cộng sản, trong đó có đồng chí Lê Duẩn.
Ra khỏi nhà tù, đồng chí ra sức hoạt động cách mạng ở các tỉnh miền Trung, thực thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm động viên, tập hợp quần chúng đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, chống nguy cơ phát xít và chiến tranh.
Tháng 4/1938, theo quyết định của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương (tháng 3/1938), Xứ ủy Trung Kỳ được lập lại do đồng chí Nguyễn Chí Diểu làm Bí thư. Cuối năm 1938, đồng chí Nguyễn Chí Diểu lâm bệnh nặng rồi mất, đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Những hoạt động tích cực của đồng chí Lê Duẩn thời gian này đã góp phần quan trọng đưa tới cao trào đấu tranh sôi nổi trong cả nước.
Năm 1939, đồng chí được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và cuối năm đó đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại hội nghị này, Đảng quyết định thành lập Mặt trận phản đế Đông Dương thay Mặt trận Dân chủ Đông Dương, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới.
Mặc dù đã được trả tự do nhưng mọi hoạt động của đồng chí Lê Duẩn và một số đồng chí Đảng viên kiên trung khác vẫn luôn nằm trong “tầm ngắm” của chính quyền thực dân.
Rạng sáng ngày 17/1/1940, đồng chí Lê Duẩn và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị mật thám bắt. Đồng chí bị kết án 5 năm tù giam, 10 năm quản thúc và bị đày đi Côn đảo lần thứ hai.
Tại nhà tù Côn Đảo, theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ, tên chúa đảo đã thi hành một chế độ giam cầm tàn bạo nhất trong lịch sử giam giữ ở nhà tù Côn Đảo. Kẻ thù vô cùng hiểm độc, chúng muốn giết dần giết mòn các chiến sĩ cộng sản bằng cách bắt lao động khổ sai hay giam cầm cố trong các xà lim tối tăm, bẩn thỉu. Tới bữa ăn, chúng lùa anh em tù chính trị ra thành hàng ba, cai ngục đứng chắn ngang cửa dùng roi mây quất liên tục lên đầu, lên lưng tù nhân, máu tuôn xối xả.
Trong điều kiện sống cực khổ và chế độ giam cầm hà khắc của nhà tù Côn Đảo, phần lớn anh em cùng giam chung phòng với đồng chí Lê Duẩn bị chết do bệnh tật và kiệt sức. Tuy nhiên sự khắc nghiệt của nhà tù Côn Đảo không khuất phục được ý chí kiên cường của người cộng sản, sự hy sinh của các đồng đội càng thêm tạo động lực để đồng chí Lê Duẩn tiếp tục sống, tiếp tục chiến đấu chống lại kẻ thù.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền. Đồng chí được tăng cường cho Đảng bộ Nam Bộ và tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Năm 1946, ra Hà Nội, đồng chí được làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuối năm 1946, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và tiến hành cải cách ruộng đất trong các vùng giải phóng.
Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng.
Năm 1957, Trung ương Đảng cử đồng chí Lê Duẩn lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư (Bí thư thứ nhất).
Tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động Việt Nam toàn quốc lần thứ III, được tổ chức tại Hà Nội từ 5-10/9/1960, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Trong cuộc đời cách mạng gần 60 năm của mình, đồng chí Lê Duẩn đã tham gia hoạt động ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, trải qua mọi thử thách gian nan; được Đảng, Nhà nước tin tưởng và giao phó nhiều trọng trách: Bí thư Xứ ủy, Bí thư Trung ương Cục miền Nam và gần 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Lê Duẩn đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”. Dù ở bất cứ cương vị nào, đồng chí cũng hết lòng tận tụy vì Đảng, vì Dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
Phương Phương (tổng hợp)