Hà Nội (TTXVN 5/1/2026)
Đồng chí Lê Đức Anh (bí danh Sáu Nam), sinh ngày 01/12/1920, mất ngày 22/04/2019, là nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Trải qua hơn 80 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và Quân đội, trong đó có các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị các khóa V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và những cống hiến to lớn của đồng chí gắn liền với những chặng đường đấu tranh vẻ vang của dân tộc, từ các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đến sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới.
* Quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Đức Anh
Năm 1937: Đồng chí tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang (tỉnh Thừa Thiên Huế).
Tháng 5/1938: Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1939 - 1943: Địch khủng bố mạnh, mất liên lạc, đồng chí vào Hội An, Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một tham gia hoạt động trong các hội Ái hữu.
Tháng 3/1944: Bắt liên lạc được với tổ chức và được giao nhiệm vụ hoạt động trong các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi, Xa Can, Xa Cát.
Năm 1945: Được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trung kiên trong các nghiệp đoàn, chuẩn bị đấu tranh võ trang.
Tháng 8/1945: Được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở các đồn điền cao su và hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Thời gian này, đồng chí tham gia Quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một.
Tháng 11/1946 - 10/1948: Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn Ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một.
Tháng 10/1948 - 12/1948: Tham mưu trưởng Khu 7, Quân khu Ủy viên.
Tháng 1/1949 - 10/1949: Tham mưu trưởng Khu 8, Quân khu Ủy viên.
Tháng 11/1949 - 5/1950: Tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn-Chợ lớn, Quân khu Ủy viên.
Tháng 6/1950 - 12/1950: Tham mưu trưởng Khu 7.
Tháng 1/1951: Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ.
Tháng 5/1955: Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 10/1957: Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 12/1958: Được phong quân hàm Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1961: Cục trưởng Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1963: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8/1965: Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền.
Năm 1968: Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền.
Năm 1969: Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy.
Năm 1974: Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền. Được thăng quân hàm từ Đại tá lên Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam (tháng 4/1974).
Năm 1975: Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam
Tháng 5/1976: Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân Khu ủy.
Tháng 12/1976: Tại Đại hội Đảng quốc lần thứ IV, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 6/1978: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Tháng 1/1981: Được thăng quân hàm Thượng tướng.
Tháng 6/1981: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.
Tháng 3/1982: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.
Tháng 12/1984: Được phong quân hàm Đại tướng.
Tháng 12/1986: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 2/1987: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Tháng 6/1991: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng.
Tháng 9/1992: Được Quốc hội khóa IX bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tháng 6/1996: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, làm Thường vụ Bộ Chính trị.
Tháng 12/1997: Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) được suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (đến 4/2001).
Ngày 22/4/2019: Đồng chí từ trần.
Trải qua gần một thế kỷ tuổi đời và hơn tám thập kỷ hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Anh đã có những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng tài năng, một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị vững vàng, đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân, mở rộng quan hệ đối ngoại và thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nước.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; về phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, tinh thần trách nhiệm và ý chí phấn đấu không ngừng vì sự nghiệp cách mạng. Những đóng góp to lớn của đồng chí Lê Đức Anh đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, trân trọng; tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi là niềm tự hào, là nguồn động viên, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.
Tư liệu