Hà Nội (TTXVN 19/12/2025) Ngày 20/12/2025, tỉnh Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du tại Quảng trường Thành Sen với chương trình nghệ thuật “Đại thi hào Nguyễn Du - Chữ tâm sáng ngời”. Lễ kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du được tổ chức nhằm tuyên truyền, tôn vinh, tiếp tục khẳng định công lao, tài năng và những đóng góp đặc biệt xuất sắc của Đại thi hào Nguyễn Du với nền văn học, văn hóa Việt Nam và nhân loại; giáo dục truyền thống văn hóa, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.

Đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nước và quốc tế. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương bất hủ, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, đặc biệt là kiệt tác “Truyện Kiều” bất hủ. Di sản văn hóa của Nguyễn Du là sản phẩm kết tinh trí tuệ, tâm hồn, vẻ đẹp văn hóa dân tộc Việt Nam qua tài năng của ông và cùng với thời gian, di sản ấy đã trở thành một phần tinh hoa văn hóa nhân loại.

  * Di sản văn hóa Nguyễn Du - tinh hoa văn hóa nhân loại

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1765, mất năm 1820, quê xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, nay là xã Tiên Điền (Hà Tĩnh). Họ Nguyễn Tiên Điền nửa cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 là dòng tộc nổi tiếng. Thân phụ của Nguyễn Du là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng. Mẹ của ông là Trần Thị Tần, xuất thân từ dòng họ có truyền thống khoa bảng ở Kinh Bắc. Truyền thống quê hương, gia đình, sự tích hợp nhiều nguồn văn hóa khác nhau, kết hợp một cách kỳ diệu với tài năng thiên bẩm và sự nhạy cảm trước những biến động thời cuộc đã tạo nên Nguyễn Du, người “có con mắt nhìn thâu sáu cõi, tấm lòng cảm tới nghìn đời”. Sáng tạo của Nguyễn Du là sáng tạo gắn liền với sự chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống, về những số phận, những kiếp người.

Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản văn học vô cùng quý giá. Ông có 3 tập thơ chữ Hãn, tổng cộng có 250 bài: “Thanh Hiên thi tập” (Tập thơ của Thanh Hiên), viết vào những năm 1784-1805, gồm 78 bài; “Nam Trung tạp ngâm” (Ngâm vịnh tản mạn trên đường từ Nam ra Trung), viết vào khoảng từ 1805 đến cuối 1812, gồm 40 bài; “Bắc hành tạp lục” (Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc), viết thời gian đi sứ Trung Quốc năm 1813, gồm 132 bài. Về văn Nôm, Nguyễn Du sáng tác chủ yếu bằng hai thể thơ lục bát và song thất lục bát, gồm: “Văn chiêu hồn”, “Truyện Kiều”, “Thác lời trai phường nón” và “Văn tế sống hai con gái Trường Lưu”.

Nét nổi bật về nội dung trong các sáng tác của Nguyễn Du là sự đề cao cảm xúc, tức đề cao cái “Tình”. Nếu như phần lớn các nhà thơ trung đại Việt Nam thường dùng thơ ca để nói chí, để “tải đạo” thì Nguyễn Du lại dùng văn chương miêu tả thực tại xã hội, ghi lại “những điều trông thấy” nhiều khi “đau đớn lòng”: xã hội rối ren, gia đình ly tán, những thân phận con người bị biến động lịch sử vùi dập... Đặc biệt, trong tập thơ “Bắc hành tạp lục”, thực tại xã hội không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà còn mở rộng ra nước ngoài. Ông đã phác họa và có những chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống xã hội đương thời, thể hiện sự xót thương, cảm thông sâu sắc với những thân phận khổ đau, những con người nhỏ bé bất hạnh, lên án bất công xã hội và gửi gắm ước mơ giải phóng con người, thể hiện qua các tác phẩm: “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Sở kiến hành”, “Thái Bình mại ca giả”… Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX”. Riêng với “Truyện Kiều”, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kỳ diệu của tình yêu lứa đôi”.

Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm, được minh chứng qua tác phẩm “Truyện Kiều”. Truyện Kiều là tác phẩm đạt đến mẫu mực tuyệt vời về sự kết hợp giữa ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân, giữa vẻ đẹp của tiếng Việt và thể thơ lục bát của dân tộc, là đỉnh cao của nghệ thuật thi ca. Nguyễn Du chính là người đã kế thừa một cách sáng tạo truyền thống văn hóa tốt đẹp của văn học dân tộc và đã nâng truyền thống ấy lên một cách chói lọi.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng thể hiện tư tưởng, nhân cách của ông. Các bài thơ trong “Thanh Hiên thi tập” và “Nam trung tạp ngâm” tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt nhưng cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả. Trong “Bắc hành tạp lục”, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn. Những tác phẩm của ông thường ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện; hoặc phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người, hoặc cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi.

Bằng những thi phẩm mang tính nhân văn sâu sắc được thể hiện bằng nghệ thuật bậc thầy, tiếng thơ Nguyễn Du đã chạm đến cảm xúc, lương tâm và lòng trắc ẩn của con người. Vượt không gian và thời gian, nhiều câu thơ của Nguyễn Du đã trở thành những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, về số phận con người. Đó không còn là vấn đề của một thời mà của nhiều thời; không còn là vấn đề của một quốc gia, một cộng đồng, một con người mà của toàn nhân loại.

Để tôn vinh những cống hiến to lớn của Đại thi hào Nguyễn Du đối với văn hóa dân tộc và những giá trị cốt lõi của nhân loại, năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã quyết nghị tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du cùng với 8 danh nhân văn hóa trên toàn thế giới. Gần 50 năm sau - năm 2013, Đại Hội đồng UNESCO quyết định vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng 107 danh nhân văn hóa của nhân loại.

 * “Truyện Kiều” - kiệt tác thơ của mọi thời đại

Từ đầu thế kỷ XX, học giả Phạm Quỳnh đã có câu nói nổi tiếng "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn". Trải qua hàng trăm năm với biết bao dâu bể từ khi đại thi hào Nguyễn Du viết ra, “Truyện Kiều” vẫn mãi lay động tâm trí hàng triệu triệu người trên khắp thế giới. Có lẽ, ít có một áng văn thơ nào của nhân loại lại được truyền tụng, thẫm đẫm nhân văn trong đời sống xã hội như “Truyện Kiều”.

“Truyện Kiều” có tên gốc là “Đoạn trường tân thanh”, sáng tác khoảng năm 1805-1809, được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung chính xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều - một cô gái vừa tài sắc, vừa hiếu thuận, nghĩa tình. Trên nền tảng nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam.

Thể thơ mà Nguyễn Du lựa chọn để kể “Truyện Kiều” là thể lục bát - một thể thơ thuần túy dân tộc, đã tồn tại trong văn học dân gian từ lâu đời. Đó là hình thức thể hiện của những bài ca dao, dân ca làm say lòng người trong các lễ hội dân gian trải dài khắp mọi miền đất nước. Nhưng cũng chính thể thơ lục bát, qua bàn tay thiên tài của Đại thi hào, đã được gọt giũa thành những viên châu ngọc ngời sáng vẻ đẹp dân tộc, thành những câu nói bất hủ sống mãi với thời gian: “Làn thu thủy, nét xuân sơn/Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” hay “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

Trong “Truyện Kiều” xuất hiện đậm đặc một số lượng từ cảm thán và bao quát nhiều cung bậc tình cảm, trạng thái tâm lý khác nhau của các nhân vật. Qua đó, Nguyễn Du đề cao nghệ thuật miêu tả ngoại hình, biểu lộ đời sống nội tâm, số phận con người và phản ánh mối tương quan giữa tâm trạng, tính cách nhân vật với hoàn cảnh thực tại, triệt để khai thác, tô đậm, đạt tới đỉnh cao nghệ thuật trong nền thơ tiếng Việt. Chính bởi vậy mà “Truyện Kiều” cho đến ngày nay vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa Việt Nam. Nhiều nhân vật trong “Truyện Kiều” trở thành điển hình cho những mẫu người trong xã hội cũ mang những tính cách tiêu biểu như Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải và đều đi vào thành ngữ Việt Nam.

Các bản Truyện Kiều qua nhiều thời kỳ được trưng bày tại Khu lưu niệm Nguyễn Du (xã Tiên Điền). Ảnh: Hữu Quyết TTXVN

Hơn hai thế kỷ qua, “Truyện Kiều” gắn bó với đời sống của nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến nông thôn, vượt qua biên giới đến với kiều bào ở xa Tổ quốc và bạn bè quốc tế. Tư tưởng triết học nhân sinh đã đưa tác phẩm của Nguyễn Du vượt qua thời gian, vượt mọi giới hạn của ngôn ngữ, bắt gặp sự chia sẻ, đồng điệu của mọi người. Nhiều câu thơ của Nguyễn Du khái quát thành những triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, về con người, đề cao cái thiện, coi cái thiện là gốc rễ đã lay động trái tim bao thế hệ người Việt Nam, tạo cảm hứng sáng tác cho nhiều tác phẩm thi ca, nhạc họa. Người dân Việt Nam, từ trẻ đến già hầu như ai cũng biết đến “Truyện Kiều”, nhiều loại hình như ngâm, vịnh thơ Kiều, ru Kiều, bói Kiều, diễn trò Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều... đã trở thành nét văn hóa dân gian trong sáng của dân tộc.

Đến nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trở thành biểu tượng tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Nhiều bạn bè quốc tế đến với Việt Nam, hiểu văn hóa đất nước con người Việt Nam bắt đầu từ sự yêu mến những câu Kiều, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Nhà thơ Nga Vaxili Pôpôp, người dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Nga đã nói: “Đọc xong Truyện Kiều của Nguyễn Du, tôi đã trở thành một con người khác”. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch “Truyện Kiều” đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nào”. Cuối cùng, ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”.

Năng lượng tỏa ra từ Truyện Kiều là vô tận và Nguyễn Du đã giúp chúng ta nối dài vòng tay với nhân loại, gắn kết thế giới bằng chữ “Tâm”, chữ “Tình”. Trong quan hệ ngoại giao rộng mở, hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay, nhiều nguyên thủ quốc gia khi gặp gỡ giao lưu với Việt Nam đã mượn hình thức lẩy Kiều thể hiện sự hiểu biết, tôn trọng văn hóa, con người Việt Nam, coi văn hóa là cầu nối để xây đắp hòa bình, hữu nghị, hướng tới tương lai.

Khu lưu niệm Nguyễn Du tại xã Tiên Điền.

Sinh thời, trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí”, Nguyễn Du từng đặt câu hỏi: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?”. Nhưng không phải đợi đến 300 năm sau, tên tuổi của Nguyễn Du đã làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam. Di sản văn học của Đại thi hào Nguyễn Du là niềm tự hào và là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, góp phần quan trọng khẳng định vị thế và bản sắc văn hóa Việt Nam trong giao lưu, hội nhập quốc tế, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay./.

Diệp Ninh (tổng hợp)