120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1/3/1906-1/3/2026): Nhà lãnh đạo kiệt xuất, một nhân cách lớn của dân tộc

    Nhân vật liên quan

    • Ủy viên Bộ Chính trị khóa II, III, IV, V; Bí thư Trung ương Đảng khóa II; Thủ tướng Chính phủ (9/1955 - 7/1981); Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; (7/1981 - 6/1987)Phạm Văn Đồng

Hà Nội (TTXVN 28/2/2026) Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, hơn 30 năm đảm nhiệm cương vị Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn, toàn diện và bền bỉ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Cuộc đời và nhân cách của ông là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, tinh thần tận tụy vì nước, vì dân, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ hôm nay.

Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng được tổ chức vào sáng ngày 1/3/2026 tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo kiệt xuất

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1/3/1906 trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Ông sớm giác ngộ cách mạng, biết đến Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam, như: báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo", “Tạp chí thư tín quốc tế”…

Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, tại phiên khai mạc Hội nghị Geneva về Đông Dương, sáng 8/5/1954 với tư thế của một dân tộc chiến thắng. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Năm 1926 trở thành bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông khi được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện tại Quảng Châu và kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Từ đây, ông kiên định con đường cách mạng vô sản, trở thành người học trò xuất sắc, gần gũi của Người.

Trải qua những năm tháng hoạt động bí mật, bị địch bắt giam, đày ra Côn Đảo, rồi lại hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ và công tác hải ngoại, ông luôn thể hiện bản lĩnh kiên cường, niềm tin sắt son vào thắng lợi của cách mạng. Năm 1941, ông được giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ cách mạng ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Tháng 8/1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, ông được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời, được Quốc hội khoá I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến tháng 1/1949, ông là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Tại đây, ông đã có những cống hiến và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, thực hiện khẩu hiện tự lực cánh sinh, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiển trường kỳ.

Khoảng tháng 2/1949, ông trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ. Từ năm 1951 đến 1986, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 đến 1987, ông được Đảng và Nhà nước giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Ông còn kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954-1961). Trong thời gian từ 1986-1997, ông là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dù ở cương vị nào, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng luôn là tấm gương mẫu mực về một người cán bộ lãnh đạo, tận tâm tận lực, vì dân, vì nước, liên khiết, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với nhân dân.

Trên cương vị Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng Chính phủ, ông hết sức quan tâm tới công tác củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước. Ông thường nói: “Việc tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân, ông nhấn mạnh: “nguyên tắc tổ chức của Nhà nước chúng ta là nguyên tắc tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể thiếu và phải mật thiết liên quan với nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau”. Trong hơn 30 năm đứng đầu Chính phủ, ông luôn trăn trở, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng tiền đề, tạo lập và phát triển một chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Trong lãnh đạo kinh tế, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong hai cuộc kháng chiến, ông luôn hướng tới tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém, hoạt động hiệu quả; tích cực lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của Nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng thăm và gặp mặt các đại biểu công nhân, nhân dân lao động thành phố Hồ Chí Minh (1985).

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, ông luôn trăn trở trước những khó khăn của nền kinh tế, chi đạo mở cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là bước khởi đầu quan trọng của tư duy đổi mới đất nước. Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: Đổi mới là xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là dân giàu, là xây dựng một nền văn hóa mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Với phong cách làm việc gắn kết chặt chẽ giữa tư duy lý luận sắc bén với thực tiễn sinh động, ông đã thể hiện là một người lãnh đạo kinh tế đổi mới, người quản lý năng động và sáng tạo. Những năm 1976-1985, ở cương vị lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế trên phạm vi cả nước, ông đã tập trung giải quyết những vấn đề trọng yếu, cấp thiết của đất nước ở tầm vĩ mô nhằm thực hiện tốt các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

* Nhà ngoại giao tài năng

Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn là nhà ngoại giao tài năng, có uy tín, tầm nhìn xa, tinh tế và linh hoạt, kiên quyết nhưng mềm dẻo, ứng xử nhanh nhạy, sáng tạo, thể hiện lập trường chính trị sáng suốt trước thời cuộc và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, được nhân dân và bạn bè quốc tế kính trọng và cảm phục.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam dự hội nghị Fontainebleau (Pháp) năm 1946. Ảnh: TTXVN

Dấu ấn ngoại giao của ông được thể hiện rõ nét từ khi ông nhận nhiệm Trưởng đoàn đàm phán của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa dự Hội nghị Fontainebleau (tại Pháp, tháng 5/1946). Tại Hội nghị Fontainebleau, với cương vị là Trưởng đoàn, ông đã nỗ lực bảo vệ lợi ích tối đa của nhà nước cộng hòa non trẻ. Mặc dù hội nghị không thành công, nhưng đây là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước Pháp-Việt Nam vào ngày 14/9/1946.

Cũng từ đó, ông chính thức đảm trách nhiệm vụ của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, người thay mặt Đảng và Chính phủ Việt Nam tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng và ký nhiều văn bản ngoại giao.

Thời điểm ông được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị Geneva (tháng 5/1954), quan hệ quốc tế rất phức tạp. Đoàn đại biểu Việt Nam gặp nhiều khó khăn… Tuy vậy, dưới sự dẫn dắt của ông, đoàn Việt Nam từng bước khắc phục khó khăn, tìm ra biện pháp hiệu quả để bảo đảm lợi ích của đất nước.

Suốt thời gian diễn ra Hội nghị Geneva, quán triệt lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã tỏ rõ là một nhà ngoại giao xuất sắc, bản lĩnh, vừa giữ vững nguyên tắc không khoan nhượng về mục tiêu; vừa linh hoạt, uyển chuyển trong hình thức, mềm dẻo trong phương pháp, kiên trì, khôn khéo đấu tranh từng bước, buộc đối phương phải chấp nhận và cơ bản phải thực thi những yêu cầu do ta đưa ra. Hình ảnh về nhà ngoại giao Phạm Văn Đồng với đôi mắt sáng, vầng trán cao và nhất là những phát biểu đanh thép, những cuộc trả lời phỏng vấn sắc sảo tại Hội nghị Geneva đến nay vẫn được bạn bè quốc tế nhắc đến.

Ngày 19/07/1954, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng họp báo tại Trụ sở Phái đoàn Việt Nam ở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sĩ) để thông báo về vấn đề thống nhất Việt Nam. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Trong những năm tháng cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Thủ tướng Phạn Văn Đồng đã tham gia tích cực và có nhiều cống hiến trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Ông đã nhiều lần là Trưởng đoàn đi thăm chính thức các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị cấp cao các nước Á-Phi ở Bandung, Indonesia (1955), Hội nghị cấp cao nhân dân các nước Đông Dương, nhiều hội nghị cấp cao các nước Phong trào không liên kết, Hội đồng tương trợ kinh tể và nhiều hội nghị quốc tế quan trọng khác.

Với những quan điểm có tính nguyên tắc, tài thuyết phục và tình cảm chân thành, trong các hoạt động ngoại giao, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận được những tình cảm, sự kính trọng và cảm phục. Nhiều chính khách, bạn bè quốc tế nhận xét ông “là một trong những nhân vật xuất sắc và có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam trong thể kỷ XX, nhờ những khả năng siêu phàm về ngoại giao cũng như uy tín, ảnh hưởng to lớn ở trong nước”.

* Nhà văn hóa lớn của dân tộc

Với một trí tuệ lớn, bản lĩnh lớn, nhân cách lớn, tâm hồn lớn, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng là nhà văn hóa cách mạng với ý nghĩa từ hoạt động cách mạng trở thành nhà văn hóa và đưa văn hóa phục vụ sự nghiệp cách mạng.

Trong lúc bị giam cầm nơi ngục tù Côn Đảo, ông đã tham gia làm báo “Ý kiến chung và Người tù đỏ”. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939), khi hoạt động công khai tại Hà Nội, ông đã viết một số bài in trên các báo xuất bản công khai của Đảng như Le Travail, Notre Voix... để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng. Trong quá trình tham gia xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ phụ trách báo “Việt Nam độc lập” và là cây bút chủ yếu của báo. Trong thời gian giữ các trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó, ông viết nhiều bài đăng trên báo chí của Đảng, của các đoàn thể.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm các chiến sỹ lão thành cách mạng và gia đình cơ sở cách mạng tỉnh Cao Bằng, Tết Nhâm Tuất 1982. Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có nhiều đóng góp, cống hiến, phát huy truyền thống văn hoá dân tộc. Tháng 2/1966, khi tham dự Hội nghị các nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhà giáo bàn về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Thủ tướng khẳng định: “Tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại”.

Trong tác phẩm “Văn hóa và đổi mới”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phân tích rất khoa học về mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới, quan điểm xuyên suốt là coi văn hóa là động lực của phát triển kinh tế, xã hội. Với tầm cao trí tuệ, hiểu biết thực tiễn phong phú, Thủ tướng có những đề xuất và là người khai phá một số lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn.

Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng để lại nhiều công trình khoa học xã hội nhân văn có giá trị, đặc biệt là các tác phẩm nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm "Hồ Chí Minh, hình ảnh của dân tộc" (tháng 8/1948), được coi là một trong những tác phẩm đầu tiên nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt cơ sở cho ngành Hồ Chí Minh học.

Cuốn "Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp" (1990); cuốn "Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lại" (1991); cuốn "Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh" (1993); cuốn "Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh" (1998)… được coi là những tác phẩm tiêu biểu nhất nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc. Từ việc nghiên cứu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, năm 1970, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặt vấn đề xây dựng môn "Đạo đức học" làm cho môn này "trở nên một ngành khoa học xã hội, một môn học không thể thiếu được trong các trường đại học và giáo dục phổ thông".

Cuộc đời và sự nghiệp, công lao và cống hiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; về lòng tin mãnh liệt ở lý tưởng cách mạng cao đẹp, tình thương yêu đồng chí, đồng bào; sống giản dị, chan hòa cùng với Nhân dân, vì Nhân dân. Tinh thần suốt đời vì nước, vì dân, tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của ông đẹp mãi và luôn tỏa sáng đến mai sau!

Diệp Ninh (tổng hợp)