Cụ Bùi Bằng Đoàn: Tấm gương sáng ngời về tận trung với nước, tận hiếu với dân

    Nhân vật liên quan

    • Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (11/1946 - 4/1955); Đại biểu Quốc hội: Khóa IBùi Bằng Đoàn

Hà Nội (28/9/2025) Ngày 28/9/2025, Lễ khánh thành Khu lưu niệm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn đã được long trọng tổ chức tại Nhà văn hóa thôn Bặt Chùa, xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội. Lễ khánh thành là một trong chuỗi các hoạt động hướng tới Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026) nhằm tôn vinh và tri ân công lao, đóng góp to lớn của Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn – người trí thức yêu nước nhiệt thành, nhà lãnh đạo tài năng, có nhiều cống hiến quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Quốc hội Việt Nam.

Cụ Bùi Bằng Đoàn (1989-1955)

  * Một vị quan thanh liêm chính trực, dĩ công vi thượng

Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 19/9/1889 trong một gia đình nhà nho tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay xã Ứng Thiên, Hà Nội) – làng quê có truyền thống văn hiến, với những danh nhân khoa bảng được ghi trong sử sách.

Năm 17 tuổi, cụ đỗ cử nhân khoa thi năm 1906, sau đó đỗ thủ khoa Trường Hậu bổ, là cơ sở đào tạo viên chức hành chính bằng tiếng Pháp lúc bấy giờ. Từ năm 1911, cụ lần lượt được bổ làm Tri huyện, Tri phủ ở tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); Án sát ở tỉnh Bắc Ninh rồi Tuần phủ ở các tỉnh: Cao Bằng, Ninh Bình. Năm 1933, cụ được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Hình, đồng thời tham gia Viện Cơ mật của triều đình Huế.

Trong thời gian làm quan ở các địa phương, cụ nổi tiếng là một vị quan thanh liêm chính trực, yêu thương dân chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Làm quan ở địa phương nào, cụ cũng luôn luôn đề cao tinh thần dân tộc, thương nước nhà đang còn dưới ách nô lệ, thương dân chúng còn đói khổ lầm than. Bởi lẽ đó, cụ luôn thực hiện chủ trương mở mang đạo học để khai trí, giáo dục đạo lý làm người, mở mang nghề nông, mang lại cơm no áo ấm cho dân, được nhân dân các địa phương ghi nhớ công đức.

Năm 1925, khi đang làm Tri phủ Nghĩa Hưng (Nam Định - nay là Ninh Bình), cụ được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, vị quan Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu, để sau đó tòa án không khép được cụ Phan Bội Châu vào án chung thân mà giảm xuống hình thức “an trí ở Huế”.

Năm 1933, cụ được nhà Nguyễn tuyên triệu vào Triều đình Huế làm việc và được cử giữ chức Thượng thư ngự tiền Văn phòng Nam Triều (1934), rồi làm Thượng thư Bộ hình (Bộ Tư pháp); sung Cơ mật viện Đại thần, hàm Chánh nhị phẩm và được thăng Hiệp tá Đại học sĩ hàm Tùng nhất phẩm, sau đó ít lâu được phong hàm Chánh phẩm. Trong 12 năm ở Kinh đô Huế, cụ trông nom việc xử kiện của tất cả các tỉnh Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và dịch ra chữ Hán. Trên cương vị Thượng thư Bộ hình, cụ đã có công lớn trong việc cải cách tư pháp, sửa đổi luật pháp, bãi bỏ nhiều quy định lỗi thời của hệ thống tư pháp cổ xưa trên 17 tỉnh, đạo thuộc Trung Kỳ. Cụ cũng là người biên soạn, trình tấu và được phê chuẩn một số luật mới có nội dung tiến bộ, lựa chọn và đào tạo thẩm phán và đội ngũ nhân viên chuyên môn nghiệp vụ chuyên trách... Sau này, nhiều người được tiếp tục phục vụ trong các cơ quan pháp luật của chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, cụ Bùi Bằng Đoàn cáo quan về quê, nhưng Chính phủ Nam triều đã mời Cụ ở lại và giao giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm ở Hà Nội.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Vua Bảo Đại thoái vị, cụ Bùi Bằng Đoàn trở về quê. Quý trọng tài năng, đức độ và kinh nghiệm của cụ Bùi Bằng Đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì nhiều lần viết thư tay mời Cụ tham gia việc nước. Bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho cụ Bùi Bằng Đoàn ngày 17/11/1945 viết:

 "Thưa Ngài!

Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà, dân tộc. Cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe.

Kính thư.

Hồ Chí Minh.

Nể phục và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, Cụ Bùi Bằng Đoàn lại rời quê, dấn thân theo con đường cách mạng."

  * Nhà lãnh đạo mẫn cán của Quốc hội và Chính phủ

 Với tài năng, đức độ và tri thức uyên bác của mình, cụ Bùi Bằng Đoàn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đảm nhiệm nhiều công việc và chức vụ quan trọng. Cụ Bùi Bằng Đoàn đã trở thành một trong 10 người trong Ban Cố vấn của Chính phủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân đề nghị trong phiên họp của Chính phủ ngày 14/11/1945.
Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64-SL, thành lập Ban Thanh tra đặc biệt là tiền thân của ngành Thanh tra Việt Nam ngày nay. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Bùi Bằng Đoàn và ông Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt, trong đó cụ Bùi Bằng Đoàn được cử làm Trưởng ban để bảo đảm sự lãnh đạo thực hiện của cơ quan có chức năng, quyền hạn rất lớn trong Chính phủ.

Tuy thời gian hoạt động không dài, nhưng Ban Thanh tra đặc biệt dưới sự chỉ đạo của cụ Bùi Bằng Đoàn đã triển khai và giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, mang lại uy tín cho Đảng, Chính phủ, sự tin tưởng của nhân dân đối với chính quyền cách mạng.

Tháng 1/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn được bầu làm đại biểu Quốc hội của tỉnh Hà Đông. Vào tháng 11 năm đó, cụ đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Kỳ họp thứ 2 tín nhiệm bầu giữ chức Trưởng ban Thường trực Quốc hội, thay cụ Nguyễn Văn Tố nhận nhiệm vụ mới.

Trong thời gian giữ cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội - người đứng đầu cơ quan lập pháp, với sự hiểu biết sâu rộng cả về lý luận và thực tiễn, cụ Bùi Bằng Đoàn đã luôn sát cánh với Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh để thực thi những nhiệm vụ mà Quốc hội giao phó.

Với vai trò là người đứng đầu cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, do cử tri cả nước bầu nên, Cụ Bùi Bằng Đoàn đã tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu của thực dân Pháp và bè lũ tay sai về tính hợp hiến, hợp pháp của Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Bằng kiến thức uyên bác và bản lĩnh chính trị vững vàng, Cụ đã khẳng định: “Quốc dân ta chỉ có một Chính phủ là Chính phủ Hồ Chí Minh do Quốc dân công nhận tại kỳ họp tháng 11 năm 1946”. Lời tuyên bố đanh thép của Cụ là một đòn giáng mạnh vào âm mưu chia rẽ của chính quyền thực dân và mưu toan lập chính quyền bù nhìn thân Pháp hòng làm giảm uy tín của Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Trong những ngày ở chiến khu Việt Bắc, trên cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ đã luôn ở bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, góp ý kiến với Chính phủ và giám sát các hoạt động của Chính phủ trong mọi công tác kháng chiến. Cụ đã có những đóng góp vào việc cải tổ nhân sự của Chính phủ; thực hiện các chính sách sản xuất tiết kiệm, chính sách thuế nông nghiệp, chính sách ruộng đất; chỉ đạo các đoàn đại biểu khu vực kiểm tra tình huống, lấy nguyện vọng của nhân dân góp ý cho Quốc hội và Chính phủ trong lãnh đạo cuộc kháng chiến. Cụ cũng tham gia Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường lực lượng cách mạng.

Trên cương vị là một nhà lãnh đạo của Quốc hội và Chính phủ, Cụ Bùi Bằng Đoàn luôn nêu cao tinh thần: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đem hết tài năng, trí tuệ và sức lực để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Một lòng tận tụy với công việc, tận tâm với nhân dân, lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm lẽ sống, Cụ đã cùng Quốc hội và Chính phủ đoàn kết toàn dân, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Từ tháng 8/1948, do lâm bệnh nặng nên cụ Bùi Bằng Đoàn không còn trực tiếp điều hành các hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội. Tuy nghỉ dưỡng bệnh nhưng cụ vẫn theo dõi tình hình trong nước, quốc tế và thường xuyên gửi thư thăm hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội và đóng góp nhiều ý kiến mưu lợi ích cho nhân dân.

Kháng chiến thắng lợi, Thủ đô được giải phóng, Cụ Bùi Bằng Đoàn được đưa về Hà Nội để tiếp tục chữa bệnh. Với nghị lực của một chí sĩ yêu nước, vượt lên những mất mát, hy sinh cá nhân, Cụ tiếp tục hoạt động, cống hiến cho đến ngày tạ thế 13/4/1955.

Với những công lao, cống hiến to lớn đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 224/SL, ngày 14/4/1955, truy tặng Huân chương Độc lập Hạng Nhất cho cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I.

Cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương tiêu biểu của một nhân sĩ yêu nước chân chính, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tinh thần làm việc tận tụy, hy sinh vì nước, vì dân; sống khiêm tốn, giản dị, không màng danh lợi, phú quý của cụ là tấm gương sáng để các đại biểu Quốc hội, cùng cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta học tập. Tấm gương của cụ Bùi Bằng Đoàn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng lý tưởng, truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Diệp Ninh (tổng hợp)