Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Văn kiện lịch sử vô giá

    Nhân vật liên quan

    • Chủ tịch Đảng từ 2/1951 đến 9/1969; Tổng Bí thư từ 10/1956 đến 9/1960Hồ Chí Minh

Hà Nội (TTXVN 9/5/2024) Ngày 10/5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút viết những dòng Di chúc đầu tiên. Và cứ vào trung tuần tháng 5 của những năm sau đó, Bác viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc ở phòng làm việc nhà sàn. Di chúc là những lời căn dặn cuối cùng của Bác, là tình cảm và niềm tin của Bác đối với Đảng, với các tầng lớp nhân dân và cả các thế hệ tương lai. Cho đến nay, Di chúc Bác Hồ vẫn luôn là tài sản chung của dân tộc, là văn kiện, cẩm nang soi đường chỉ lối cho mỗi bước chúng ta đi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

* Bác dành nhiều thời gian và tâm huyết để viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều văn kiện quan trọng. Điển hình như: cuối tháng 8/1945 Bác đã viết bản Tuyên ngôn độc lập ở căn nhà 48, Hàng Ngang, Hà Nội, chuẩn bị cho ngày lễ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; đêm 18/12/1946, tại một căn gác nhỏ ở Hà Đông, Bác viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - lời hịch cho cả dân tộc bước vào trận chiến mới đầy thử thách ác liệt giành độc lập, tự do; tháng 7/1967, tại nhà sàn trong khu Phủ Chủ tịch, khi đế quốc Mỹ leo những nấc thang nghiêm trọng xâm lược nước ta, Bác viết Lời kêu gọi quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược…

Và ngày 10/5/1965, Bác đã đặt bút viết một văn bản đặc biệt quan trọng mà Bác đã khiêm tốn gọi là “Mấy lời để lại”. Đó chính là bản Di chúc thiêng liêng của Người.

Trong hồi ký của mình, đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác đã viết: “Đúng 9h, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã suy ngẫm từ lâu. Phòng làm việc trên nhà sàn yên tĩnh. Gió mát dịu, thoang thoảng hương thơm của hoa vườn... Chính vào giờ phút đó Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau” (1). Đó là ngày 10/5/1965, ngày đầu tiên Bác viết Di chúc. Rồi những ngày tiếp theo của tháng 5 năm ấy hay những ngày trung tuần tháng 5 của các năm sau cũng vậy, Bác viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc ở phòng làm việc nhà sàn.

Ngày 19/5/1969, Bác xem lại Di chúc: “Đúng 9h, Bác ngồi vào bàn làm việc với bản Di chúc trước mặt. Bên ngoài nắng đã lên cao. Những chùm hoa phượng nở sớm, bắt nắng khoe màu rực rỡ. Mặt hồ lăn tăn gợn sóng, lấp lánh ánh mặt trời. Một làn gió mát rượi ùa vào khung cửa sổ làm bay bay những sợi tóc bạc của Bác. Bác ngồi đó, tựa lưng vào thành ghế thoải mái, ung dung, nét suy tư hiện lên trên vầng trán rộng...” (2). Ngày 20/5/1969, “Người xem lại tài liệu lần cuối và xếp vào phong bì cất đi” (3).

Sau khi Bác mất, ngày 9/9/1969, trong Lễ truy điệu Người, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã xúc động công bố bản Di chúc của Người. Đó là bản Di chúc hoàn chỉnh được ghép từ các bản Di chúc mà Bác Hồ đã viết và sửa chữa, bổ sung hoặc thay thế trước đó.

Mãi 20 năm sau, vào năm 1989, khi điều kiện cho phép, tất cả các bản thảo Di chúc của Bác Hồ đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) công bố đầy đủ. Theo đó, ngày 19/8/1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký ban hành Thông báo số 151-TB/TW, thông báo đến toàn Đảng, toàn dân và toàn quân một số vấn đề liên quan đến Di chúc của Bác và ngày Bác qua đời. Theo thông báo này thì:

“Năm 1965, Bác viết bản Di chúc gồm ba trang, do chính Bác đánh máy, ở cuối đề ngày 15/5/1965. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng hồi bấy giờ.

Năm 1968, Bác viết bổ sung thêm một số đoạn, gồm sáu trang viết tay. Trong đó, Bác viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói "về việc riêng" đã viết trong bản năm 1965, và viết thêm một số đoạn. Đó là những đoạn nói về những công việc cần làm sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, như: chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng lại thành phố và làng mạc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, củng cố quốc phòng, chuẩn bị thống nhất đất nước…

Ngày 10/5/1969, Bác viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Di chúc, gồm một trang viết tay.

Các năm 1966, 1967, Bác không có những bản viết riêng.” (4)

Như vậy, Di chúc là “tài liệu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để viết, sửa chữa, bổ sung. Bác đã cân nhắc từng ý, từng lời; nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành như chính cuộc đời mà Bác đã sống.

* Văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc

Giờ đây, khi lật giở lại những trang bản thảo, những bút tích chỉnh sửa, bổ sung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Di chúc thiêng liêng, dường như chúng ta vẫn thấy Người đang cẩn trọng, cân nhắc từng ý, từng việc, để cô đọng nhất những trăn trở, những điều cần phải dặn lại. Ðó là những vấn đề quan trọng, cần thiết đối với Ðảng ta, nhân dân ta, sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

Trước hết nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định truyền thống đoàn kết chặt chẽ trong Đảng và “cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (5). Người yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” (6) để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất trong Đảng. Mỗi cán bộ đảng viên phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; giữ gìn Đảng ta thật trong sạch.

Nói về đoàn viên và thanh niên, Người nhấn mạnh, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (7). Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ - những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Nói về nhân dân lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân lao động bao đời chịu đựng gian khổ, bị nhiều áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân; nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, luôn đi theo và rất trung thành với Đảng. Do đó, “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (8).

Dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài nhưng nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, sau khi kháng chiến thắng lợi, ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển đất nước; Đảng và Nhà nước phải quan tâm chăm lo tới mọi đối tượng trong xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân.

Về phong trào cộng sản thế giới, Người bày tỏ sự đau lòng vì sự bất hòa của các đảng anh em. Chủ tịch Hồ Chí Minh “mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình” (9).

Nói về một số việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ tiếc rằng không được phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Người căn dặn “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân” (10).

Mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa là “toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (11).

Đó là những lời căn dặn thiết tha, chứa đựng biết bao tình cảm, hoài bão của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hầu như ai cũng được Bác nhớ đến và dặn dò với muôn vàn tình thương yêu. Di chúc là kết quả sự trăn trở, suy nghĩ của của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tương lai của dân tộc; là sự tổng kết và rút ra những luận điểm cô đọng, súc tích trong quá trình chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng. Di chúc thể hiện phẩm chất đạo đức sáng ngời, chủ nghĩa nhân đạo và nhân văn cao cả của Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh.

Với nội dung cô đọng, sâu sắc, hàm chứa tinh thần nhân văn cao cả, Di chúc là văn kiện có sức lay động sâu xa trái tim của hàng triệu triệu con người, thôi thúc hành động không chỉ đối với nhân dân ta mà đối với tất cả những ai đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình, công lý và hạnh phúc của con người. 55 năm đã trôi qua, nhưng những tư tưởng, tình cảm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, những lời dặn dò của Người trong bản Di chúc vẫn là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước ngày nay./.

Minh Hiếu

(1) Vũ Kỳ. Càng nhớ Bác Hồ, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999, tr 130
(2)(3) Hồ Chí Minh- Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, 1996, tập 10, tr 351
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 49 (1988-1989), tr 1081
(5) - (11) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr 621-624