Đồng chí Nguyễn Đức Tâm – Người cán bộ lãnh đạo tận tụy của Đảng trong công tác tổ chức và xây dựng Đảng

Hà Nội (TTXVN 6/1/2026) Đồng chí Nguyễn Đức Tâm (1920 – 2010) là một trong những nhà lãnh đạo có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trải qua hơn bảy thập kỷ hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí đã đảm nhiệm nhiều cương vị trọng yếu của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực tổ chức cán bộ, xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị. Với phẩm chất kiên trung của người cộng sản, tinh thần trách nhiệm cao cùng bề dày kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đồng chí Nguyễn Đức Tâm sinh ngày 28/7/1920 tại xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay thuộc xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên). Sinh ra trong bối cảnh đất nước còn dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, đồng chí sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tham gia hoạt động từ khi còn rất trẻ.

Năm 1937, đồng chí bắt đầu tham gia phong trào cách mạng. Trong những năm 1938 - 1939, đồng chí tích cực hoạt động trong các tổ chức thanh niên học sinh và thanh niên phản đế. Năm 1940, đồng chí tham gia tổ chức Nông hội, phụ trách phong trào phụ nữ ở địa phương và trực tiếp vận động quần chúng tham gia cuộc biểu tình kỷ niệm Xô viết Nghệ - Tĩnh tại Thái Bình. Hoạt động cách mạng sôi nổi đã khiến đồng chí bị thực dân bắt giam và kết án 10 năm tù khổ sai. Trong những năm tháng bị giam giữ tại các nhà tù Thái Bình, Hà Nội, Sơn La và Hòa Bình, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, tiếp tục học tập, rèn luyện và tham gia hoạt động cách mạng trong tù.

Tháng 3/1944, đồng chí được kết nạp vào Đảng tại Chi bộ Nhà tù Hòa Bình. Đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí. Sau khi được trả tự do vào tháng 3/1945, đồng chí được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Thái Bình, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng tại địa phương trong thời điểm chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí tiếp tục được Đảng tin tưởng giao nhiều trọng trách quan trọng. Năm 1946, đồng chí giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình. Tháng 8 cùng năm, đồng chí được cử làm Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các cương vị tại Khu ủy và Liên khu ủy, phụ trách nhiều địa bàn chiến lược ở vùng Việt Bắc và Đông Bắc, góp phần xây dựng cơ sở cách mạng, củng cố lực lượng kháng chiến và tổ chức phong trào quần chúng.

Từ năm 1948 đến năm 1949, đồng chí giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn, sau đó tham gia Thường vụ Liên khu ủy I và phụ trách công tác văn phòng. Đây là giai đoạn đồng chí tích lũy nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn trong điều kiện chiến tranh gian khổ, đồng thời thể hiện năng lực tổ chức và điều hành công việc một cách hiệu quả.

Cuối năm 1949, đồng chí được điều động về công tác tại Trung ương Đảng, giữ chức Phó Trưởng Ban Đảng vụ Trung ương, tiền thân của Ban Tổ chức Trung ương ngày nay. Trong gần tám năm đảm nhiệm cương vị này, đồng chí tham gia nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng trong thời kỳ kháng chiến và những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Từ năm 1957 đến năm 1969, đồng chí lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ trong lĩnh vực quản lý kinh tế như Giám đốc Vụ Quản lý thương nghiệp tư doanh thuộc Bộ Nội thương, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ và Tổng cục trưởng Tổng cục Vật tư. Trên các cương vị công tác này, đồng chí đã góp phần vào việc quản lý, điều hành và phát triển các ngành kinh tế quan trọng, phục vụ yêu cầu xây dựng hậu phương lớn miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tháng 10/1969, đồng chí được phân công giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Trong hơn một thập niên lãnh đạo địa phương, đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo tỉnh tập trung phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, phát huy tiềm năng của vùng than và xây dựng Quảng Ninh trở thành một trong những địa bàn kinh tế quan trọng của đất nước.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 12/1980, đồng chí được giao trọng trách Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới tư duy và hoàn thiện bộ máy lãnh đạo, quản lý. Với kinh nghiệm nhiều năm trong công tác tổ chức và cán bộ, đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương tham mưu cho Đảng về công tác xây dựng tổ chức bộ máy, đào tạo, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng thời giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), đồng chí tiếp tục được tín nhiệm bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trên cương vị là người đứng đầu cơ quan tham mưu chiến lược về tổ chức cán bộ của Đảng, đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc kiện toàn hệ thống tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ và triển khai các chủ trương đổi mới về công tác cán bộ trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới đất nước.

Không chỉ là nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, đồng chí Nguyễn Đức Tâm còn được đồng chí, đồng nghiệp và cán bộ các thế hệ đánh giá cao bởi lối sống giản dị, gần gũi, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy đối với công việc. Dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước và nhân dân lên trên hết, hết lòng phụng sự sự nghiệp cách mạng.

Ngày 29/7/2010, đồng chí Nguyễn Đức Tâm từ trần, hưởng thọ 90 tuổi. Ghi nhận những công lao, cống hiến to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã trao tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác./.

Tư liệu