Lê Quý Đôn
- Họ và tên: Lê Quý Đôn
- Tên thật là:Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu
- Hiệu:Quế Đường
- Ngày sinh: 2/8/1726
- Năm mất:11/6/1784
- Quê quán: làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên)
- Vinh danh:
- Danh nhân văn hóa
- Thân thế, sự nghiệp:
- Được người đương thời coi là “thần đồng”. 5 tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, 8 tuổi đã xuất thần làm bài thơ “rắn đầu rắn mặt” nổi tiếng; đọc rất nhanh, một lần đưa mắt đọc liền được 10 dòng chữ (nhất mục thập hàng).
- 1740: 14 tuổi ông đã đọc hết Ngũ kinh, Tứ thư, sử, truyện, đọc đến cả Chu Tử, trong một ngày có thể làm 10 bài phú không cần viết nháp... Ông theo cha lên Kinh đô Thăng Long theo học Tiến Sĩ Lê Hữu Kiều.
- Vốn sẵn thông minh, chăm chỉ, lại được cha và ông ngoại kèm cặp từ nhỏ, Lê Quý Đôn học một hiểu mười; được theo ông và cha đi nhiều nơi, được dự những buổi bình văn ở Quốc Tử Giám hoặc hầu chuyện nhiều nhân vật ưu tú, giao lưu với nhiều bạn bè sĩ tử.
- 1743: Năm 17 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương, đỗ Giải nguyên. Năm đó ông chính thức đổi tên Lê Danh Phương thành Lê Quý Đôn. Cũng từ năm đó, ông ở lại nhà dạy học viết văn.
- 1752-1754: Năm 26 tuổi, dự khoa thi Hội Nhâm Dần, ông đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình. Thi Hội đỗ Hội nguyên. Thi Đình đỗ Bảng nhãn (kỳ thi này không có Trạng nguyên). Từ đây ông bắt đầu cuộc đời làm quan, nhận chức Thị thư, làm ở Hàn lâm viện, rồi làm ở Ban Toản tu quốc sử.
- 1757: Ông được thăng chức Thị giảng Viện Hàn lâm.
- 1760-1762: Đi sứ Trung Quốc.
- 1762: Ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi làm Học sĩ ở Bí thư các. Ông từng được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Hương, nhiều lần được cử đi coi thi ở kỳ thi Hội.
- 1764: Ông dâng sớ xin thiết định pháp chế, liền bị điều đi làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Sau đó ít lâu lại làm Tham chính xứ Hải Dương. Ông xin bãi chức.
- 1766: Được phục chức làm Hàn lâm thị thư, Tổng tài Quốc sử quan kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Trở lại nghiệp quan, Lê Quý Đôn thường đề xuất những việc có lợi cho dân, cho nước.
- 1769: Nhân chuyến đi kiểm tra hai xứ Thanh, Nghệ là nơi dân tình điêu đứng bởi chiến tranh và hạn lụt, ông dâng khải xin ban hành nhiều chính sách cụ thể về mộ dân khẩn hoang, lập ấp.
- 1771: Khi làm Hữu thị lang Bộ Hộ, ông dâng khải đề nghị tiến hành điều tra lại đất đai, làm lại sổ hộ tịch, xem xét lại việc bổ nhiệm các cống sĩ...
- 1774: Ông đi khảo sát các huyện ở Trấn Sơn Nam, thấy tình hình thiếu đói, ông dâng khải đề xuất chủ trương quyên tiền và thóc của nhà giàu để phát chẩn, bớt thuế vụ chiêm, giảm việc bắt dân đi phu...
- 1774: Lê Quý Đôn được thăng chức Tả Thị lang Bộ Lại kiêm Quốc sử Tổng tài. Năm sau lại được cử vào làm Hiệp đồng trấn Nghệ An.
- 1776: Chúa Trịnh đặt ty Trấn phủ ở Thuận Hóa, ông được cử làm Hiệp trấn, Tham tán quân cơ, 6 tháng sau lại về triều.
- 1778: Ông được bổ làm Hành Tham tụng.
- 1783: Lê Quý Đôn được cử đi làm Hiệp trấn Nghệ An, cuối năm lại về triều.
- 11/6/1784: Ông qua đời và được truy phong Thượng thư Bộ Công.
- 31/10/2025: Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tại thành phố Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan, thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
- Tác phẩm chính:
- Vân đài loại ngữ
- Kiến văn tiểu lục
- Đại Việt thông sử
- Bắc sử thông lục
- Toàn Việt thi lục
- Quần thư khảo biện (sách về triết học)
- Thánh mô hiền phạm lục (sách về triết học)
- Thông tin thêm:
- Ông là vị quan lớn thời Lê Trung Hưng, là nhà văn hóa, nhà thơ, nhà bác học lớn. Số lượng tác phẩm của Lê Quý Đôn lên tới hơn 40 bộ, bao quát hầu hết các vấn đề về lịch sử, văn hóa, nông nghiệp, thiên văn, địa lý. Các tác phẩm nổi tiếng của ông được đánh giá là bách khoa toàn thư ở nhiều lĩnh vực, như: Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Đại Việt thông sử, Bắc sử thông lục, Toàn Việt thi lục; các sách về triết học như Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục...
- Những ghi chép về quần đảo Hoàng Sa trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục” đã trở thành một trong những chứng cứ về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
