Nghị quyết 10-NQ/TW: Định hình thế hệ FDI mới – từ thu hút vốn đến kiến tạo giá trị

Hà Nội (TTXVN 30/6/2026) Sau bốn thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, việc thay đổi tư duy trong thu hút và sử dụng FDI trở thành yêu cầu cấp thiết.

Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW "về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài" là dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển trong tư duy phát triển FDI của Việt Nam.

Ảnh minh họa: TTXVN

FDI - bộ phận quan trọng của nền kinh tế 

Trong nhiều năm qua, khu vực FDI đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP, kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy hội nhập quốc tế.

Phát biểu tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 (ngày 13/5/2026), Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh, khu vực đầu tư nước ngoài là điểm sáng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Đến nay Việt Nam có hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 357,6 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng trên 20% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.

Các tập đoàn công nghệ lớn, như: Samsung, Intel, LG, Canon, Foxconn, Lego... đã lựa chọn Việt Nam là cứ điểm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, góp phần đưa nhiều địa phương trở thành trung tâm công nghiệp mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn không ít hạn chế như tỷ lệ nội địa hóa thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ chưa đạt kỳ vọng, nhiều dự án vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp.

Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.

Bước chuyển từ "thu hút vốn" sang "kiến tạo giá trị"

Điểm mới nổi bật của Nghị quyết 10-NQ/TW là thay đổi tư duy phát triển.

Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là thu hút vốn, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu thì nay trọng tâm được chuyển sang nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư, coi FDI là một động lực để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết xác định rõ việc ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số, kinh tế xanh, năng lượng sạch, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), tài chính quốc tế cùng các dự án có khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước.

Đồng thời, Bộ Chính trị đặt mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến cạnh tranh đối với dòng vốn đầu tư trung và dài hạn chất lượng cao; phấn đấu đến năm 2045 khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.

Đây được xem là bước chuyển từ tư duy "mở cửa để thu hút vốn" sang "kiến tạo hệ sinh thái đầu tư chiến lược".

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Việt Nam luôn coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế quốc gia, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam chuyển mạnh tư duy từ thu hút FDI đại trà sang hợp tác đầu tư có chọn lọc, chất lượng, hiệu quả và bền vững.

"Chúng tôi không chỉ đánh giá và quan tâm nhà đầu tư mang bao nhiêu vốn vào Việt Nam, mà quan trọng hơn là mang công nghệ gì, tạo ra giá trị gia tăng gì, đào tạo được nguồn nhân lực ra sao, kết nối được bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, đóng góp như thế nào cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. FDI thế hệ mới không chỉ đến Việt Nam để sản xuất, để khai thác thị trường, mà cần cùng Việt Nam tạo ra giá trị mới, năng lực mới và vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu", Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa, Trưởng Ban nghiên cứu tổng hợp, Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rất rõ ràng và toàn diện về vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Thông điệp xuyên suốt của Nghị quyết 10 đó là “Chuyển từ vị thế thu hút vốn FDI sang thế chủ động hay lựa chọn nhà đầu tư FDI” phù hợp với chiến lược phát triển dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, lấy chất lượng và hàm lượng giá trị gia tăng cao làm mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Trong bối cảnh thế giới đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng và cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc chủ động lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, hiện đại và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam không chỉ thu hút FDI mà còn tận dụng hiệu quả nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế trong những thập niên tới.

Song hành với định hướng lựa chọn dòng vốn chất lượng cao là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Nghị quyết yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý theo hướng kiến tạo phát triển, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; đồng thời xây dựng chính sách ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo để tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang cạnh tranh quyết liệt nhằm thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu, chất lượng thể chế và hiệu quả điều hành sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng không kém các ưu đãi về thuế hay chi phí lao động.

Có thể thấy, Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ là một định hướng về thu hút FDI mà còn thể hiện sự điều chỉnh trong tư duy phát triển kinh tế của Việt Nam. Nếu trước đây ưu tiên là mở rộng quy mô đầu tư thì nay trọng tâm chuyển sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa của dòng vốn nước ngoài đối với toàn bộ nền kinh tế.

Cơ hội và thách thức

Trong bối cảnh nhiều tập đoàn quốc tế đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Việt Nam được đánh giá tiếp tục nằm trong nhóm quốc gia hấp dẫn nhất khu vực Đông Nam Á nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tốc độ cải cách thể chế ngày càng mạnh mẽ.

Tuy nhiên, cơ hội sẽ chỉ được hiện thực hóa nếu cùng lúc giải quyết được những "điểm nghẽn" về hạ tầng logistics, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghiệp hỗ trợ và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước.

Nghị quyết 10-NQ/TW vì vậy không chỉ là định hướng phát triển khu vực FDI, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện môi trường đầu tư, cải thiện chất lượng quản trị quốc gia và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Có thể nói, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi, Việt Nam đang hướng tới cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Đây chính là nền tảng để dòng vốn FDI trong giai đoạn mới không chỉ mang lại tăng trưởng về lượng mà còn tạo ra giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng tầm vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Phương Anh