Nghị quyết số 27-NQ/TW: Tổ chức lại không gian, mở rộng động lực phát triển vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Hà Nội (TTXVN 16/9/2026) Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian vùng Trung du và miền núi phía Bắc được tổ chức lại với 9 tỉnh, tạo điều kiện tăng cường kết nối giữa các trung tâm kinh tế và hình thành những không gian phát triển mới. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị xác định mục tiêu xây dựng Trung du và miền núi phía Bắc trở thành “vùng phát triển xanh, bền vững, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, liên kết chặt chẽ, thông suốt với Thủ đô Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ; phát triển các hành lang kinh tế kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của vùng đồng bằng sông Hồng”.
* Mở rộng không gian phát triển
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Đây là vùng có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh, đồng thời sở hữu nhiều tiềm năng về công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp, kinh tế cửa khẩu, du lịch và kinh tế rừng.
Việc tổ chức lại địa giới không chỉ làm thay đổi quy mô của từng địa phương mà còn mở rộng không gian liên kết, tạo điều kiện để các trung tâm công nghiệp, đô thị, cửa khẩu, vùng sản xuất nông nghiệp và các điểm đến du lịch được đặt trong một cấu trúc phát triển có tính kết nối cao hơn.
Năm 2025, tăng trưởng GRDP vùng ước đạt 8,53%, đóng góp 7,77% vào tăng trưởng chung của cả nước. Trong đó, Phú Thọ tăng trưởng 10,52%, xếp thứ 4 cả nước, dẫn đầu vùng. Kết quả này cho thấy các địa phương trong vùng đã và đang nỗ lực khai thác tiềm năng, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác trên cả nước.
Sang năm 2026, vùng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, dù giữa các địa phương còn có sự chênh lệch. Theo số liệu của cơ quan thống kê, 6 tháng đầu năm, Thái Nguyên tăng trưởng 10,01%, Phú Thọ 10,18%, Lai Châu 9,91%, Lào Cai 9,31%, Điện Biên 8,67%, Cao Bằng 7,85%, Tuyên Quang 7,72%, Lạng Sơn 7,02% và Sơn La 6,02%. Kết quả này cho thấy một số địa phương đã hình thành những động lực tăng trưởng khá rõ, song đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải tạo thêm các cực phát triển và tăng cường liên kết để thu hẹp khoảng cách giữa các khu vực trong vùng.
Trong đó, Phú Thọ và Thái Nguyên đang nổi lên như những trung tâm có khả năng tạo động lực cho khu vực phía Đông của vùng với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 10,18%, đứng đầu vùng và xếp thứ 7 trong 34 tỉnh, thành phố. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu, trong khi thương mại, dịch vụ, đầu tư và du lịch tạo thêm dư địa tăng trưởng.
Thái Nguyên cũng duy trì công nghiệp là động lực quan trọng của nền kinh tế, cùng với sự phát triển của thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Không gian mới của tỉnh sau sắp xếp tạo điều kiện kết nối khu vực công nghiệp với các vùng nguyên liệu, đô thị và không gian phát triển phía Bắc, qua đó mở rộng khả năng tham gia vào các chuỗi sản xuất và cung ứng.
Ở phía Tây và Tây Bắc, Lào Cai có lợi thế đặc biệt về kinh tế cửa khẩu, thương mại biên giới, logistics, du lịch và kết nối với thị trường Trung Quốc. Các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu có thế mạnh về nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, năng lượng, du lịch sinh thái, văn hóa và cảnh quan. Lạng Sơn, Cao Bằng tiếp tục có dư địa lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, dịch vụ logistics và du lịch.
* Từ những cực tăng trưởng đến các hành lang kinh tế
Để phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, thúc đẩy liên kết và khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương và vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong thời kỳ mới.
Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt mục tiêu: “Tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương…”.
Nghị quyết xác định rõ Trung du và miền núi phía Bắc phải trở thành “vùng phát triển xanh, bền vững, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, liên kết chặt chẽ, thông suốt với Thủ đô Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ”. Đồng thời, “phát triển các hành lang kinh tế kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của vùng đồng bằng sông Hồng”.
Mục tiêu đến năm 2030, vùng phấn đấu đạt tốc độ tăng GRDP bình quân 9-10%/năm; GRDP bình quân đầu người khoảng 6.000 USD; công nghiệp và xây dựng chiếm 45,6% cơ cấu kinh tế; dịch vụ 36,8%; kinh tế số chiếm khoảng 25-30%; năng suất lao động tăng bình quân 9,3%/năm. Đây là những chỉ tiêu cho thấy yêu cầu chuyển dịch mô hình tăng trưởng của vùng không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên mà phải dựa nhiều hơn vào công nghiệp chế biến, công nghệ, dịch vụ, năng suất và chất lượng nguồn nhân lực.
Nghị quyết định hướng phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, trong đó ưu tiên cơ khí chế tạo, điện tử và công nghệ số. Cùng với đó là đẩy mạnh dịch vụ logistics trên cơ sở khai thác lợi thế các cửa khẩu và các tuyến đường sắt quốc tế; thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế rừng và các sản phẩm đặc trưng của vùng.
Đáng chú ý, Nghị quyết xác định khu vực Thái Nguyên, Phú Thọ và các địa bàn phụ cận là vùng động lực, gắn với phát triển công nghiệp và dịch vụ. Các đô thị Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Lạng Sơn được định hướng trở thành những cực tăng trưởng, trong khi hệ thống đô thị mới phải gắn với cảnh quan tự nhiên, bản sắc văn hóa và yêu cầu phát triển bền vững.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng bởi vùng Trung du và miền núi phía Bắc có sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển và cơ cấu kinh tế giữa các địa phương. Việc hình thành các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế sẽ giúp kết nối những khu vực có lợi thế khác nhau, từ đó tạo dòng lưu chuyển thuận lợi hơn về hàng hóa, lao động, vốn, công nghệ và dịch vụ.
* Ưu tiên phát triển hạ tầng
Nghị quyết số 27-NQ/TW dành sự quan tâm lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng. Đây là điểm nghẽn có tính lâu dài đối với Trung du và miền núi phía Bắc, khi địa hình phức tạp, khoảng cách giữa các trung tâm kinh tế lớn và khu vực sản xuất còn xa, chi phí vận tải và logistics cao.
Nghị quyết định hướng phát triển các tuyến giao thông quan trọng như Hà Nội - Phú Thọ - Sơn La - Điện Biên; Thái Nguyên - Cao Bằng; Đồng Đăng - Trà Lĩnh; Bảo Hà - Lai Châu; Vành đai 5 vùng Thủ đô; đồng thời tăng cường kết nối tuyến Nội Bài - Lào Cai với Lai Châu. Cùng với đường bộ, Nghị quyết định hướng nghiên cứu, phát triển các tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Lạng Sơn, nâng cao năng lực vận tải và kết nối vùng với các trung tâm kinh tế trong nước, quốc tế.
Hạ tầng hàng không cũng được tính toán trong cấu trúc phát triển dài hạn, với định hướng nghiên cứu, nâng cấp các sân bay Nà Sản, Sa Pa, Lai Châu và Cao Bằng. Khi các tuyến giao thông được kết nối đồng bộ, những lợi thế về cửa khẩu, công nghiệp, du lịch, nông nghiệp và kinh tế rừng sẽ có điều kiện tiếp cận thị trường rộng hơn.
Định hướng này cũng phù hợp với Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc được điều chỉnh tháng 4/2026, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng vùng phát triển xanh, bền vững, có hạ tầng đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường kết nối trong vùng, liên vùng và quốc tế; hướng tới trở thành đầu mối kết nối Đông Nam Á với Trung Quốc, Trung Á và châu Âu.
Với không gian phát triển mới, các cực tăng trưởng và hành lang kinh tế được định hình rõ hơn, Trung du và miền núi phía Bắc đang đứng trước cơ hội tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng. Khi các tiềm năng được kết nối và bổ trợ lẫn nhau, vùng sẽ từng bước khắc phục những điểm nghẽn, phát huy hiệu quả các lợi thế cạnh tranh, qua đó đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước./.
Minh Duyên






