Nghị quyết số 80-NQ/TW - Nghị quyết chiến lược về phát triển văn hoá Việt Nam
Hà Nội (TTXVN 15/1/2026) Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 7/1/2026 tiếp tục khẳng định “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
* Nghị quyết số 80-NQ/TW: Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc
Văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát triển văn hoá và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, tư duy và nhận thức về vai trò của văn hoá tiếp tục có những bước phát triển mới. Thể chế, chính sách được quan tâm, từng bước hoàn thiện. Nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hoá được tăng cường. Công nghiệp văn hoá đang trên đà phát triển. Các giá trị văn hoá thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Hội nhập quốc tế về văn hoá ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, sức mạnh mềm của quốc gia.
Tuy đạt nhiều kết quả quan trọng, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam vẫn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hoá ở một số nơi còn chưa đầy đủ, thiếu chiều sâu. Việc thể chế hoá chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật còn chậm, thiếu đồng bộ. Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; bản sắc văn hoá đứng trước nguy cơ mai một. Đầu tư cho văn hoá còn thấp, dàn trải; nguồn nhân lực văn hoá chưa đáp ứng yêu cầu; mức độ tiếp cận, thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, miền còn chênh lệch. Một số di sản xuống cấp, trong khi công nghiệp văn hoá phát triển chưa tương xứng tiềm năng.
Trong khi đó, yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức thúc đẩy phát triển văn hoá.
Trước yêu cầu đó, ngày 7/1/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.”…
Mục tiêu đến năm 2030, đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Một số chỉ tiêu cụ thể:
Bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
Hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.
Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...
Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.
Đến năm 2045, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh. Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.
Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: (1) Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. (2) Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa. (3) Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. (4) Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa. (5) Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hóa. (6) Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hoá thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa. (7) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới. (8) Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
* Văn hóa - nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam.
Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, Đảng ta luôn nhất quán xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, ở bất kỳ giai đoạn nào, khi văn hóa được khơi dậy và phát huy đúng tầm, sức mạnh tinh thần của dân tộc được nhân lên, tạo nên lực đẩy to lớn cho sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ những áng thiên cổ hùng văn như “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, cho đến “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những thời khắc lịch sử cam go nhất của dân tộc, văn hóa luôn giữ vai trò hiệu triệu, thức tỉnh và đoàn kết toàn dân tộc. Đó không chỉ là những tác phẩm văn chương, mà là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh, khí phách và khát vọng độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước và con người. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Người, văn hóa trở thành một “mặt trận”, nơi mỗi văn nghệ sĩ, trí thức là một chiến sĩ, góp phần tạo dựng sức mạnh tinh thần to lớn cho dân tộc.
Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân xâm lược, văn hóa thực sự là “vũ khí tinh thần” sắc bén, hun đúc ý chí chiến đấu, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tin tất thắng và khát vọng hòa bình, thống nhất. Nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, nhà báo, trí thức đã hòa mình vào thực tiễn cách mạng, vừa sáng tạo nghệ thuật, vừa trực tiếp chiến đấu, để lại những tác phẩm sống mãi với thời gian. Sự hy sinh của họ đã làm giàu thêm truyền thống văn hóa yêu nước, cách mạng của dân tộc, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX.
Sau Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, văn hóa tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng tinh thần trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy tinh thần lạc quan, niềm tin vào tương lai. Từ “văn hóa kháng chiến”, văn hóa Việt Nam từng bước chuyển sang “văn hóa kiến quốc”, đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bồi đắp những giá trị cốt lõi của con người Việt Nam trong thời bình.
Bước vào thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, văn hóa tiếp tục tiên phong, mở đường cho những cải cách kinh tế-xã hội, góp phần hình thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong dòng chảy hội nhập, văn hóa Việt Nam vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa chủ động tiếp thu tinh hoa nhân loại, không ngừng làm mới mình để thích ứng với yêu cầu phát triển.
Ngày nay, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành một nguồn lực phát triển quan trọng, một sức mạnh mềm của quốc gia. Hình ảnh Việt Nam được lan tỏa ra thế giới thông qua di sản, nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa và các hoạt động giao lưu quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và tiếng nói của đất nước trên trường quốc tế.
Xuyên suốt các kỳ Đại hội của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều nhất quán nhấn mạnh: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đặc biệt, Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 đã tạo bước chuyển mạnh mẽ về nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và xã hội, khẳng định rõ quan điểm: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”; “phải coi văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Cùng với các giá trị tinh thần, văn hóa Việt Nam còn được kết tinh trong hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng. Hàng chục nghìn di tích, di sản văn hóa cùng hệ thống bảo tàng trên cả nước không chỉ là kho tàng ký ức của dân tộc, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch, giáo dục truyền thống và kinh tế sáng tạo.
Trong những năm gần đây, các ngành công nghiệp văn hóa từng bước khẳng định vai trò động lực mới của tăng trưởng. Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, lễ hội văn hóa… ngày càng thu hút công chúng, tạo ra giá trị kinh tế và lan tỏa hình ảnh Việt Nam hiện đại, năng động nhưng giàu bản sắc. Ở nhiều địa phương, phát triển văn hóa đã trở thành hướng đi chiến lược, vừa nâng cao đời sống tinh thần Nhân dân, vừa tạo sinh kế bền vững.
Ngoại giao văn hóa cũng chuyển từ giao lưu, quảng bá sang hợp tác thực chất, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hoá thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”.
Có thể khẳng định, văn hóa Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục là “năng lượng gốc”, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho sự phát triển đất nước. Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, mà còn phải khơi thông, biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, tạo động lực trực tiếp cho phát triển nhanh và bền vững, đúng như tinh thần mà Đảng ta đã xác định và kiên định theo đuổi./.
Minh Duyên




