Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, lan tỏa văn hóa, tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế

Hà Nội (TTXVN 10/3/2026) Với lịch sử hình thành lâu đời và nguồn di sản văn hóa phong phú, Việt Nam đang sở hữu lợi thế đặc biệt để phát triển khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.

Nếu trước đây, những giá trị văn hóa truyền thống chỉ tồn trên những trang sách, trong bảo tàng, trên sân khấu hay qua lời kể của thế hệ đi trước, thì nay, nhờ vào sức mạnh của công nghệ số, những hoa văn trăm tuổi trên vải thổ cẩm được tái hiện sống động trong không gian thực tế ảo, một làn điệu chèo hay nhã nhạc cung đình có thể vang lên trên khắp các nền tảng trực tuyến chỉ với một cú click chuột.

Thầy cúng làm lễ cấp binh khí cho trò tại Lễ hội “Cấp sắc” - nghi lễ không thể thiếu của người Dao đỏ. Ảnh: TTXVN

* Nhiều “dư địa” để khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa

Việt Nam có kho tàng văn hóa vô giá với những di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật; danh lam thắng cảnh; lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống; trò chơi dân gian; nghệ thuật ẩm thực, trang phục truyền thống, phong tục tập quán…Giá trị văn hóa Việt Nam có thể được khai thác tạo thành những sản phẩm khởi nghiệp, góp phần tạo động lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển đất nước một cách bền vững.

Theo Giáo sư, TS Từ Thị Loan, việc Việt Nam được ví như một “mỏ vàng” về tài nguyên văn hóa là hoàn toàn có cơ sở, song tài nguyên chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành nguồn vốn - tức là được tổ chức, đầu tư, khai thác và tái tạo một cách bền vững.

Thời gian qua, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, dần trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, đóng góp 4,4% vào GDP của đất nước và mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 sẽ đóng góp 7% của GDP.

Nền văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng, đặc sắc và nhân bản của Việt Nam là mảnh đất hứa hẹn đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thêm vào đó, hầu hết các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam còn chưa được khai thác, hoặc mới được khai thác ở quy mô nhỏ lẻ, ở tầng nấc bên ngoài chứ chưa đi vào chiều sâu. Điều đó có nghĩa còn rất nhiều “dư địa” để khai phá và đầu tư sáng tạo.

Theo Phó Giáo sư Đỗ Hương Lan (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), trong bối cảnh thế giới chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa nổi lên như một lĩnh vực vừa giàu tiềm năng kinh tế, vừa mang ý nghĩa bảo tồn, làm mới và lan tỏa bản sắc dân tộc.

Khởi nghiệp, sáng tạo trong công nghiệp văn hóa không chỉ là khởi nghiệp kinh doanh mà còn là khởi nghiệp về ý tưởng, tư duy, cách kết nối giữa truyền thống-hiện đại, giữa bảo tồn-phát triển, giữa văn hóa bản địa và thị trường toàn cầu. Với kho tàng văn hóa đa dạng, phong phú, Việt Nam có mọi điều kiện để phát triển mạnh mẽ lĩnh vực này nếu có cách tiếp cận đúng đắn, sáng tạo và hợp thời.

Từ góc nhìn chiến lược, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khẳng định: Các ngành công nghiệp văn hóa đã được xác định như điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, thiết kế, quảng cáo, thời trang, trò chơi điện tử, đến du lịch văn hóa, xuất bản, truyền hình, nghệ thuật biểu diễn và thủ công mỹ nghệ... đều có điểm chung là sự phụ thuộc sâu sắc vào sức mạnh sáng tạo - yếu tố không thể thay thế bằng vốn đầu tư thuần túy hay công nghệ sản xuất đơn giản. Vì vậy, công nghiệp văn hóa được xem là “vùng đất màu mỡ” cho đổi mới sáng tạo, nơi cảm xúc, bản sắc, nghệ thuật và công nghệ giao thoa để tạo nên những giá trị mới.

Cũng theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, đổi mới sáng tạo trong nội dung và hình thức biểu đạt không chỉ là nhu cầu, mà còn là con đường để văn hóa Việt Nam hòa nhập với dòng chảy thế giới mà không đánh mất bản sắc. Khi những giá trị văn hóa được trình bày theo ngôn ngữ của thời đại sẽ không bao giờ trở nên cũ kỹ hay lạc lõng. Ngược lại, chính những sáng tạo ấy sẽ giúp văn hóa tiếp tục lan tỏa, chạm đến trái tim con người.

Văn hóa cồng chiêng là di sản không thể thiếu ở Tây Nguyên. Ảnh: Thành Đạt - TTXVN

* Phát huy "sức mạnh mềm" của văn hóa dân tộc

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành và triển khai hiệu quả nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” lần đầu tiên đề cập rõ về công nghiệp văn hóa, xác định phát triển công nghiệp văn hóa là một trong năm mục tiêu cụ thể của xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong những thập kỷ tới “Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam”.

Đại hội XII của Đảng (tháng 1/2016) đã đề ra nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa, coi phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới, cũng như trong chính sách gia tăng “sức mạnh mềm” của quốc gia.

Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 8/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó xác định 12 lĩnh vực của công nghiệp văn hóa (Quảng cáo; Kiến trúc; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Thủ công mỹ nghệ; Thiết kế; Điện ảnh; Xuất bản; Thời trang; Nghệ thuật biểu diễn; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Truyền hình và phát thanh; Du lịch văn hóa), đồng thời đề ra mục tiêu triển khai các lĩnh vực này đến năm 2030.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục đặt ra yêu cầu cụ thể hơn, nhấn mạnh mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp văn hóa với phát huy sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc và việc tiếp thu, vận dụng có chọn lọc, sáng tạo những thành tựu, giá trị văn hóa của nhân loại. Đồng thời nhấn mạnh, "khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam".

Tiếp đó, ngày 29/8/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg khẳng định: “Để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, cần chú trọng, đẩy nhanh quá trình ứng dụng, khai thác những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật cùng kỹ năng kinh doanh, năng lực sáng tạo, phát huy nguồn vốn văn hóa và quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mang giá trị văn hóa và kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân, góp phần phát triển bền vững đất nước…”.

Đặc biệt, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết 57 không chỉ là kim chỉ nam cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức, mà còn mở ra cơ hội to lớn cho các ngành công nghiệp văn hóa - một lĩnh vực đầy tiềm năng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

* Đưa công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế chủ lực

Công nghiệp văn hóa được định hướng phát triển theo phương châm “sáng tạo - bản sắc - độc đáo - chuyên nghiệp - cạnh tranh”, trở thành hướng đi đúng đắn trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhiều sự kiện văn hóa, nghệ thuật quy mô cấp quốc gia, tầm cỡ quốc tế có chất lượng nghệ thuật cao, phục vụ nhiệm vụ chính trị, đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật ngày càng cao của người dân.

Ở lĩnh vực điện ảnh, có thể kể đến các bộ phim, như: “Mưa đỏ”, “Địa đạo”, “Tử chiến trên không”, “Đào, phở và piano”, “Một điều ước”, “Lật mặt”… đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng, chứng minh sức hấp dẫn mạnh mẽ của điện ảnh Việt đối với khán giả trong nước lẫn quốc tế.

Ở lĩnh âm nhạc, gần đây những "concert quốc gia" kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, như: “Tổ quốc trong tim”, “Tự hào là người Việt Nam”, “Hà Nội - Từ mùa thu lịch sử năm 1945”, “V Concert - Rạng rỡ Việt Nam”… có quy mô lớn, ứng dụng công nghệ trình diễn hiện đại, đã mở ra lối đi mới cho ngành công nghiệp biểu diễn của Việt Nam.

Cùng với đó là mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm mở rộng cánh cửa giao lưu quốc tế, khẳng định bản lĩnh sáng tạo Việt.

Hiện Việt Nam đang sở hữu lực lượng lao động trẻ, sáng tạo, năng động, có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới và xu hướng toàn cầu. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển các sản phẩm văn hóa - sáng tạo vừa mang bản sắc dân tộc, vừa có ngôn ngữ quốc tế. Khi được hỗ trợ bởi thể chế, chính sách phù hợp và môi trường sáng tạo lành mạnh, đội ngũ này có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng các thương hiệu văn hóa Việt Nam trên không gian số toàn cầu.

Khi được tổ chức, vận hành theo logic của công nghiệp văn hóa, được tin tưởng, trao cơ hội, được khuyến khích sáng tạo và được hỗ trợ bởi công nghệ, văn hóa sẽ trở thành “sức mạnh mềm” quan trọng, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, vừa củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, đúng với tinh thần phát triển bền vững mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh./.

Anh Anh