Tình báo quốc phòng - Những “đôi mắt không ngủ” giữa lòng địch

Hà Nội (TTXVN 27/4/2025) Không xung phong giữa lằn ranh lửa đạn, nhưng những người làm công tác tình báo quốc phòng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ lại góp phần định hình cục diện chiến tranh. Họ là những “đôi mắt không ngủ” giữa lòng địch, gánh trên vai sứ mệnh sinh tử: mang về thông tin tối mật cho cách mạng, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường.

Không phải đợi đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, công tác tình báo quốc phòng Việt Nam mới hình thành thành. Ngay từ buổi đầu lập quốc, khi nền chính quyền cách mạng còn non trẻ giữa thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tình báo. Người căn dặn: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Đó không chỉ là nguyên lý quân sự, mà còn là phương châm sống còn của cách mạng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tổ chức tình báo của ta đã có nhiều chiến công nổi bật như việc phát hiện kế hoạch chiến tranh Đông Dương mở rộng sang Lào và Campuchia, hay hỗ trợ chiến dịch Điện Biên Phủ với những báo cáo chiến lược từ nội bộ đối phương.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Lực lượng tình báo quốc phòng Việt Nam nhanh chóng điều chỉnh tổ chức, mở rộng hoạt động vào miền Nam. Trong bối cảnh chính quyền Sài Gòn dồn sức đàn áp, ngăn chặn từ trong trứng nước mọi mầm mống kháng chiến, công tác tình báo càng trở nên quan trọng. Không còn chỉ là hoạt động bán chuyên như thời kháng chiến chống thực dân Pháp, tình báo quốc phòng dần trở thành một “cánh quân đặc biệt” - hoạt động trong bóng tối nhưng góp phần làm nên ánh sáng của những chiến thắng vang dội.

Nếu chiến trường là nơi quân dân ta đối đầu trực diện với bom rơi đạn nổ, thì trận địa tình báo lại là cuộc đấu trí âm thầm nhưng không kém phần cam go. Ở đó, không có chiến hào, chỉ có những người chiến sĩ hóa thân thành thương nhân, nhà báo, thư ký, thậm chí là cố vấn quân sự của địch. Họ phải sống hai cuộc đời: một cho vai diễn và một cho lý tưởng. Đằng sau mỗi báo cáo, mỗi bản mật mã gửi ra căn cứ là hàng chuỗi ngày giữ kín thân phận, nín thở giữa vòng vây phản gián, thậm chí đánh đổi bằng cả mạng sống.

Một số đơn vị tình báo điển hình như A20, A22, A26... đã trở thành huyền thoại trong công tác tình báo quốc phòng. Đó là những đơn vị đã rèn luyện nên những cán bộ vừa giỏi nghiệp vụ, vừa kiên cường trong tư tưởng, chịu đựng được áp lực vô cùng lớn.

Trong mọi trận đánh lớn của ta, từ chiến dịch Mậu Thân 1968 đến chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, dấu ấn của tình báo chiến lược đều vô cùng rõ nét. Chính nhờ những nguồn tin kịp thời, chính xác từ nội bộ địch, Bộ Chính trị và Bộ Chỉ huy chiến lược của ta có thể ra những quyết sách mang tính đột phá.

Không có số liệu chính xác về số lượng chiến sĩ tình báo đã ngã xuống hay bị bắt trong lòng địch, bởi tên tuổi họ nhiều khi không được công khai. Nhưng chính sự vô danh ấy lại là minh chứng rõ nhất cho sự tận hiến. Có người bị địch tra tấn đến chết nhưng không hé răng nửa lời. Có người sống đơn độc suốt hàng chục năm trời, không gia đình, không tổ chức trực tiếp, chỉ với một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng.

Sau ngày toàn thắng 30/4/1975, nhiều cán bộ tình báo lặng lẽ trở về đời thường, tiếp tục giữ kín thân phận như khi còn hoạt động. Phải nhiều năm sau, khi lịch sử sang trang mới, những chiến công thầm lặng ấy mới được công bố, khiến người đương thời sửng sốt và khâm phục.

  * Một số nhà tình báo xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

 1. Anh hùng tình báo Trần Quốc Hương (bí danh Mười Hương)

Trần Quốc Hương sinh năm 1924 tại Hà Nam, tham gia cách mạng từ năm 1943 và trở thành một trong những cán bộ tình báo chiến lược đầu tiên của ngành tình báo cách mạng Việt Nam. Ông được giao nhiều nhiệm vụ đặc biệt tại Sài Gòn và từng trực tiếp chỉ huy các chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch.

Là người từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Lê Duẩn tin tưởng giao trọng trách, Trần Quốc Hương đã gây dựng và điều hành nhiều mạng lưới tình báo chiến lược nội đô, góp phần quan trọng vào việc nắm bắt tình hình, phục vụ chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Chỉ huy miền.

Dù trong vai “thầy Hai” dạy chữ cho lũ trẻ, là “người ở trọ” sống ngay giữa gia đình một sĩ quan ngụy, hay khi đối mặt với những trận đòn roi tra tấn dã man, những chiêu trò tâm lý chiến hiểm độc của chính quyền Diệm - Nhu trong lao tù... lúc nào nhà tình báo Mười Hương cũng thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của người cộng sản kiên trung, một chiến sĩ an ninh gan dạ, sáng tạo.

Một trong những dấu ấn sâu sắc nhất là ông đã trực tiếp phát hiện, tuyển chọn và đào tạo các chiến sĩ tình báo xuất sắc như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng... Ông còn trực tiếp tổ chức các đường dây bí mật, cài cắm người vào các cơ quan đầu não của đối phương.

Trần Quốc Hương từng bị bắt giam và tra khảo nhiều lần nhưng không hề khai báo, giữ trọn khí tiết của người cộng sản. Sau năm 1975, ông tiếp tục tham gia công tác trong Đảng, từng giữ chức Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều huân chương cao quý. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là hình mẫu tiêu biểu của người cán bộ tình báo trung kiên, mưu trí và tận tụy với cách mạng.

 2. Anh hùng tình báo Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang)

Đại tá tình báo, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) phát biểu trong buổi gặp mặt Hội cựu chiến binh tình báo miền Nam nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương, ngày 14/12/2024. Ảnh: Dương Chí Tưởng-TTXVN

Đại tá Nguyễn Văn Tàu sinh năm 1936 tại Long Điền, Bà Rịa-Vũng Tàu. Ông từng là Cụm trưởng Cụm tình báo H63 - cụm tình báo chiến lược quan trọng bậc nhất trong kháng chiến chống Mỹ. Với vai trò chỉ huy, ông đã điều hành và phối hợp với những điệp viên huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo… thực hiện những nhiệm vụ thu thập thông tin quan trọng từ lòng địch. Những tài liệu tối mật được chuyển về từ Cụm H63 đã đóng góp trực tiếp vào các quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị, làm thay đổi cục diện chiến trường.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu thường nói với đồng đội: “Tụi bay vô đơn vị này, tụi bay phải để trong ngực 4 chữ: “Coi như chết rồi” thì tụi bay không còn sợ gì nữa”. Trong suốt những năm kháng chiến, triết lý sống "coi như chết rồi" luôn là kim chỉ nam cho Đại tá Tư Cang. Triết lý ấy giúp ông và đồng đội Cụm H63 giữ vững tinh thần thép, bất chấp mọi nguy hiểm rình rập để hoàn thành nhiệm vụ. Đường dây thông tin của cụm tình báo H63 chưa từng bị đứt đoạn. Những chiến công của cụm đã trở thành niềm tự hào của toàn lực lượng tình báo B2, góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu còn trực tiếp chỉ đạo nhiều trận đánh quan trọng trong nội đô, tham gia bảo vệ các cán bộ cấp cao khi vào hoạt động trong lòng địch. Sau năm 1975, ông tiếp tục công tác trong ngành tình báo và góp phần đào tạo thế hệ cán bộ kế cận. Ông còn viết nhiều tác phẩm có giá trị kể lại những năm tháng hào hùng của quân và dân ta như: “Sài Gòn Mậu Thân 1968”; “Tình báo kể chuyện”; “Nước mắt ngày gặp mặt”; “Trái tim người lính”; “Bến Dược vùng đất lửa”; “Hoàng hôn trên chiến trường” ...

Với những cống hiến xuất sắc, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đại tá Nguyễn Văn Tàu là một hình mẫu tiêu biểu của người chiến sĩ trinh sát tình báo vừa gan dạ, vừa mưu trí, là mắt xích quan trọng trong hệ thống tình báo chiến lược của cách mạng Việt Nam.

 3. Anh hùng tình báo Phạm Xuân Ẩn (bí danh Hai Trung)

Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà tình báo chiến lược kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sinh năm 1927 tại Biên Hòa, Đồng Nai, ông bắt đầu hoạt động cách mạng từ sớm và được tổ chức cử sang Mỹ du học ngành báo chí. Sau khi tốt nghiệp, ông trở lại Việt Nam làm phóng viên cho các tờ báo lớn như Reuters, New York Herald Tribune và đặc biệt là tạp chí Time - nơi ông gắn bó lâu dài và gây dựng được vị thế đáng nể trong giới báo chí. Phạm Xuân Ẩn là người Việt Nam duy nhất vào biên chế của hãng tin nước ngoài thời đó, với mức lương rất cao.

Dưới vỏ bọc một nhà báo Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tiếp cận được nhiều nhân vật chủ chốt trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa, giới quân sự Mỹ, các cơ quan tình báo CIA và phái bộ ngoại giao. Ông trở thành một mắt xích quan trọng trong việc thu thập và chuyển tải những thông tin tối mật từ nội bộ địch về Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng. Nhiều tài liệu tình báo chiến lược do ông cung cấp đã giúp Trung ương có những quyết sách đúng đắn, đặc biệt là trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 - một bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống đế quôc Mỹ.

Trong sự nghiệp tình báo lừng lẫy của mình, Phạm Xuân Ẩn đã gửi về căn cứ gần 500 báo cáo, tài liệu nguyên gốc được sao chụp, các thông tin thu lượm được về tình hình của Mỹ ngụy, trong đó có những thông tin vô cùng quan trọng. Đặc biệt là những phân tích, nhận định, đánh giá của bản thân ông, góp phần rất lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam.

Điều đáng khâm phục ở Phạm Xuân Ẩn là sự điềm tĩnh, khôn khéo và trung thành tuyệt đối với Tổ quốc. Ông hoạt động tình báo trong lòng địch suốt gần 20 năm mà không hề bị lộ. Ngay cả khi bị nghi ngờ hoặc đưa vào diện theo dõi, ông vẫn giữ được vỏ bọc hoàn hảo nhờ tài ứng xử xuất chúng và sự tin cậy mà bạn bè quốc tế dành cho ông.

Sau ngày giải phóng miền Nam, ông mới được công khai thân phận và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1990, Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng cấp Thiếu tướng.

Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn là biểu tượng của trí tuệ, lòng trung kiên và sự hy sinh âm thầm của người chiến sĩ tình báo cách mạng. Ông không chỉ là tai mắt của cách mạng trong lòng địch mà còn là minh chứng sống động cho bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.

 4. Anh hùng tình báo Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Long)

Vũ Ngọc Nhạ sinh năm 1928 tại Thái Bình, là một trong những chiến sĩ tình báo huyền thoại của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Ông được biết đến với biệt danh "ông cố vấn của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa", bởi vị trí đặc biệt mà ông nắm giữ trong chính quyền Sài Gòn. Dưới vỏ bọc là một giáo dân đạo đức và có học thức, Vũ Ngọc Nhạ nhanh chóng tạo dựng được uy tín trong cộng đồng Công giáo, từ đó từng bước tiếp cận và ảnh hưởng đến những nhân vật chủ chốt trong chính quyền Sài Gòn.

Năm 1961, ông bắt đầu nhiệm vụ tình báo tại Sài Gòn, được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng tình báo chiến lược và cài cắm người vào các cơ quan đầu não của đối phương. Với sự điềm đạm, khôn ngoan và tinh thần kiên định, ông từng bước thâm nhập vào Phủ Tổng thống, trở thành cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, sau đó là Tổng thống Dương Văn Minh - những người nắm giữ vai trò cao nhất trên chính trường Sài Gòn. Ông cùng các đồng đội như Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Văn Minh… tạo nên một nhóm tình báo nội thành nổi tiếng với tên gọi "Bộ ba A.22".

Nhờ chiếm được vị trí quan trọng này mà nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ đã lấy được hàng loạt tài liệu chiến lược, sách lược tuyệt mật: từ kế hoạch “Xây dựng ấp chiến lược”, “Kế hoạch Stalay Taylor”… thời Diệm, đến “Kế hoạch bình định nông thôn”, “Kế hoạch Phượng Hoàng”, “Kế hoạch đổ quân của Mỹ”, “Sách lược chiến tranh đặc biệt”… thời Thiệu, để Đảng kịp thời có đối sách lãnh đạo đường lối đấu tranh.

Thông tin mà Vũ Ngọc Nhạ thu thập được không chỉ là những kế hoạch quân sự cụ thể mà còn bao gồm cả định hướng chiến lược, các cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Sài Gòn và Mỹ. Đặc biệt, ông từng giúp làm thất bại nhiều âm mưu của CIA nhằm phá hoại mạng lưới tình báo cách mạng. Một số kế hoạch ám sát lãnh đạo cách mạng cũng bị đập tan nhờ vào tin báo từ ông.

Dù bị bắt và tra khảo nhiều lần, ông vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo, không làm lộ tổ chức. Sau ngày giải phóng, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Quân công và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Vũ Ngọc Nhạ là một trong những chiến sĩ tình báo tiêu biểu nhất của ngành tình báo cách mạng Việt Nam. Cuộc đời ông là bài học về lòng trung thành, sự dũng cảm và nghệ thuật hoạt động bí mật xuất sắc. Ông không chỉ là niềm tự hào của ngành tình báo mà còn là biểu tượng của tinh thần yêu nước bất khuất.

 5. Anh hùng tình báo Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc)

Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) sinh năm 1922 tại Hà Nội. Ông tham gia quân đội và hoạt động trong ngành tình báo từ rất sớm, trở thành một trong những điệp viên chiến lược đặc biệt xuất sắc của tình báo cách mạng Việt Nam.

Với bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng và vỏ bọc hoàn hảo, ông đã thâm nhập sâu vào cơ quan đầu não tình báo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Khởi đầu là một trong những "phụ tá trung thành" của Trần Kim Tuyến – Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị (thực chất là cơ quan mật vụ chống Cộng dưới chế độ Ngô Đình Diệm) – ông từng bước tạo dựng vị thế, chiếm được lòng tin của các nhân vật cấp cao trong Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo.

Nhờ vị trí thuận lợi, ông được tiếp cận và thu thập hàng loạt tài liệu tối mật của địch, trong đó có nhiều kế hoạch quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Những tài liệu này được ông chuyển về căn cứ an toàn, cung cấp thông tin chiến lược quan trọng cho Trung ương, góp phần vào công tác chỉ đạo kháng chiến.

Trong suốt hơn 20 năm hoạt động bí mật, Đặng Trần Đức đã thực hiện nhiều nhiệm vụ tình báo đặc biệt khó khăn và nguy hiểm. Trong số đó có điệp vụ giải cứu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khỏi sự truy bắt của mật vụ Sài Gòn và góp phần cứu Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk khỏi một âm mưu ám sát. Những chiến công thầm lặng nhưng đặc biệt xuất sắc ấy đã góp phần bảo vệ lực lượng lãnh đạo cấp cao của cách mạng và duy trì các mối quan hệ quốc tế quan trọng.

Không chỉ hoạt động trong lòng địch, ông còn phát hiện và báo cáo nhiều địa điểm đặt điện đài, cơ sở gián điệp mà địch bí mật cài cắm trong vùng giải phóng. Nhờ các tin tức kịp thời do ông cung cấp, ta đã bóc gỡ hàng chục tổ chức gián điệp của Mỹ - ngụy, ngăn chặn nhiều âm mưu phá hoại cách mạng tại miền Bắc và các vùng căn cứ. Ông cũng nhiều lần kịp thời báo tin về các đợt truy quét, vây bắt cán bộ trong nội thành, giúp ta chủ động phòng tránh, bảo toàn lực lượng và tiếp tục duy trì hoạt động bí mật hiệu quả.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thân phận thật của ông mới được công bố, gây sửng sốt không chỉ trong nước mà còn trong giới tình báo quốc tế. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đặng Trần Đức được xem là một trong những chiến sĩ tình báo xuất sắc nhất của Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Cuộc đời ông là biểu tượng tiêu biểu cho lòng dũng cảm, ý chí thép và trí tuệ vượt trội của người chiến sĩ tình báo cách mạng - những con người sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời trong bóng tối để mang lại ánh sáng cho độc lập và tự do của Tổ quốc./.

 Minh Duyên