Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ - nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam

    Nhân vật liên quan

    • Tổng Bí thư của Đảng từ 3/1938 đến 1/1940Nguyễn Văn Cừ

Hà Nội (TTXVN 6/2/2026) Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm tham gia cách mạng, 7 năm bị giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư của Đảng, cuộc đời đồng chí Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng trong sáng và cao đẹp. Những cống hiến to lớn và sự hy sinh oanh liệt của đồng chí đã góp phần làm rạng danh Tổ quốc ta, dân tộc ta; tô thắm thêm lịch sử, truyền thống vẻ vang của Đảng ta.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ. (Ảnh tư liệu)
* Người cộng sản kiên trung

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9/7/1912 trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở làng Phù Khê, xã Phù Khê, huyện Từ Sơn (nay là phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh), là hậu duệ đời thứ 17 của đại thi hào - Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi.

Năm 1927, đồng chí lên Hà Nội học và thi đỗ vào trường Bưởi (nay là Trường Trung học Chu Văn An). Tại đây, đồng chí tham gia tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí tham gia vào các phong trào vận động quần chúng đứng lên đấu tranh chống sự áp bức bóc lột của đế quốc và bè lũ tay sai. Vì những hoạt động này, đồng chí bị đuổi học giữa khóa.

Cuối năm 1928, đồng chí bí mật rời Bắc Ninh ra vùng mỏ Đông Bắc hoạt động. Đồng chí sống ba cùng với giai cấp công nhân (cùng ăn, cùng ở và cùng làm), trở thành người lãnh đạo cao nhất trong phong trào cách mạng vùng mỏ Đông Bắc của Tổ quốc, năm đó đồng chí mới 17 tuổi. 
Tháng 6/1929, đồng chí trở thành đảng viên của Đông Dương Cộng sản Đảng, và được phân công phụ trách các chi bộ ở Cẩm Phả, Cửa Ông. 

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2/1930), đồng chí được cử làm Bí thư đặc khu Hòn Gai-Uông Bí. Đồng chí đã lãnh đạo phong trào cách mạng ở vùng mỏ phát triển mạnh mẽ.

Khi bị địch bắt, bị giam cầm, tra tấn tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí cùng với các đồng chí của mình "biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng".

Đồng chí đã thể hiện tư chất của một người cộng sản có tầm nhìn xa, có quyết tâm và nghị lực lớn, có khả năng phân tích, khái quát, nhận định chính xác các vấn đề trong nước và quốc tế; trở thành một tài năng chính trị kiệt xuất của Đảng ta.

Năm 1936, trước áp lực của các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số tù chính trị Côn Đảo được trả tự do.

* Nhà lãnh đạo xuất sắc, sáng tạo của Đảng

Toàn cảnh Hội thảo khoa học: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ - Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Bắc Ninh”, ngày 8/7/2022. Ảnh: Thanh Thương/ TTXVN

Sau khi được trả tự do, đồng chí đã liên lạc với Đảng, khôi phục cơ sở đảng, nuôi dưỡng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng và đã thành công trong việc lập lại Xứ ủy Bắc  Kỳ. Tài năng tổ chức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của đồng chí đã góp phần củng cố công tác tổ chức của Đảng và đưa các hoạt động của Đảng theo kịp sự phát triển của phong trào cách mạng, sửa đổi phương pháp tổ chức và lề lối làm việc của thời kỳ hoạt động bí mật cho phù hợp với tình hình mới.

Với phẩm chất, trí tuệ và tài năng tổ chức và chỉ đạo thực tiễn của đồng chí, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 9/1937), đồng chí được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Chỉ hơn sáu tháng sau, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 3/1938), đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Là nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng trong một giai đoạn vô cùng phức tạp và gian khó, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã có những đóng góp quyết định trong việc vạch ra chiến thuật và chiến lược của cách mạng Việt Nam, để đưa phong trào đấu tranh của dân tộc lên một tầm cao mới vào những năm sau đó.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng - giai đoạn cách mạng những năm 1938-1942, giai đoạn cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

Đầu tháng 4/1938, nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã đặt vấn đề chuyển hướng chiến lược của Đảng. Trong một loạt bài viết đăng trên báo Dân chúng, đồng chí đã phân tích tình hình, vạch rõ nguy cơ chiến tranh phát xít ở châu Á và Đông Dương, kêu gọi nhân dân đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa chống chiến tranh phát xít. Chuẩn bị để Đảng rút vào hoạt động bí mật, chủ động ứng phó với tình hình diễn biến mau lẹ, đồng chí đã cho phát hành cuốn Công tác bí mật của Đảng, gửi đến đảng bộ các cấp. 

Đầu tháng 9/1939, đồng chí triệu tập và chủ trì Hội nghị mở rộng Xứ ủy Bắc Kỳ, phổ biến tình hình và quyết định rút số cán bộ hoạt động công khai vào hoạt động bí mật, phân công một số đồng chí cán bộ Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội đi xây dựng căn cứ ở những địa bàn chiến lược, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang khi có điều kiện.

Ngày 6/11/1939, hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố cách mạng nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị vạch ra đường lối chính trị của cách mạng trong tình hình mới; chủ trương tập trung mọi lực lượng vào nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và ách thống trị phát xít thuộc địa, xác định giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc là nhiệm vụ cấp bách nhất và là mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương. Phương pháp cách mạng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến tới khởi nghĩa vũ trang.

Do có chủ trương chuyển hướng chiến lược đúng đắn và sự chỉ đạo kịp thời mà phong trào cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển, lực lượng cách mạng tránh được tổn thất khi kẻ thù trở mặt đàn áp, khủng bố. 

Có thể khẳng định, quyết định của Hội nghị Trung ương 6, thể hiện sự nhạy bén chính trị, năng lực sáng tạo của Ban Chấp hành Trung Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Hội nghị đã giải quyết đúng mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc và giai cấp trong điều kiện cụ thể nhằm tập hợp lực lượng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuẩn bị bước tới cao trào cách mạng, tiến lên giành chính quyền về tay nhân dân. 

Giữa lúc phong trào vận động giải phóng dân tộc mới bắt đầu tiến triển thì đầu năm 1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt khác của Đảng bị bắt. Tuy nhiên, những chủ trương và quyết định đúng đắn do Hội nghị Trung ương 6 vạch ra tiếp tục được các Hội nghị Trung ương tiếp theo kế thừa, phát triển, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

* Nhà lý luận sắc sảo

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ không chỉ là một nhà chính trị xuất sắc mà còn là một nhà lý luận, một cây bút trên mặt trận tư tưởng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đã được giải quyết một cách sáng tạo, phù hợp với quy luật vận động khách quan.

Tác phẩm "Tự chỉ trích"

Những bài báo và đặc biệt là tác phẩm “Tự chỉ trích” do chính đồng chí viết tháng 7/1939 là một tác phẩm tổng kết thực tiễn sâu sắc, đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, một đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng đã viết công khai: “Những người cộng sản có bổn phận nói sự thật cho quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chứ không phải theo đuôi hay phỉnh phờ họ. Và dù có sai lầm, có thất bại, thì “phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật”. Đồng chí yêu cầu Đảng phải “công khai, mạnh dạn, thành thực vạch ra những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng mà làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ”.

Tác phẩm “Tự chỉ trích” là mẫu mực về tinh thần tự phê bình và phê bình của Đảng ta; không chỉ đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cách mạng trong nước lúc đó, mà tinh thần, nội dung và những vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm này vẫn soi rọi và chỉ dẫn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.

Phương Ninh