Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo bản lĩnh, tài năng

    Nhân vật liên quan

    • Tổng Bí thư của Đảng từ 12/1986 đến 6/1991 Nguyễn Văn Linh

Hà Nội (TTXVN 2/2/2026)

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là bản hùng ca về khí phách người cộng sản, minh chứng cho sự kết tinh giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ sáng tạo, đạo đức cách mạng trong sáng và tư duy đổi mới sâu sắc.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ VI, ngày 18/12/1986. Ảnh: Minh Đạo - TTXVN

* Người chiến sĩ cộng sản kiên trung

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc, bí danh Mười Cúc, sinh ngày 1/7/1915, trong một gia đình công chức nghèo yêu nước ở xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn (nay là xã Yên Mỹ), tỉnh Hưng Yên. Sớm giác ngộ cách mạng, mới 15 tuổi, đồng chí đã tham gia phong trào học sinh yêu nước do Chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hải Phòng lãnh đạo. Từ đây, con đường cách mạng trở thành lý tưởng sống trọn đời của đồng chí.

Năm 1930, đồng chí cùng bạn học rải truyền đơn yêu nước và bị thực dân Pháp bắt và kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo - nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Được trả tự do năm 1936 trong phong trào dân chủ, đồng chí được phân công hoạt động ở Hải Phòng và Hà Nội. Đồng chí đã góp phần khôi phục, phát triển phong trào công nhân ở Hải Phòng, xây dựng nhiều cơ sở và chi bộ Đảng.

Năm 1939, đồng chí được Đảng điều động vào miền Nam, đảm nhiệm Phó Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn. Dưới sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp, đồng chí vẫn kiên cường bám trụ phong trào, tổ chức quần chúng đấu tranh, chống lại các thủ đoạn phản động. Trong một lần hoạt động ở Vinh (Nghệ An), đồng chí lại bị bắt, kết án và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Hơn 10 năm trong tù dù kẻ thù dùng mọi hình thức cực hình, tra tấn dã man nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết cách mạng, kiên cường, bất khuất, cùng với các đồng chí trong Chi bộ đảng nhà tù tổ chức các lớp học chính trị, văn hóa, ngoại ngữ, biến nhà tù thực dân, đế quốc, thành trường học cách mạng, tôi luyện bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản.

Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí trở về tiếp tục hoạt động trong Xứ ủy Nam Bộ. Tại đây, đồng chí tham gia tổ chức lại phong trào cách mạng ở Sài Gòn-Gia Định, củng cố niềm tin trong quần chúng và bảo vệ thành quả cách mạng.

Từ năm 1950-1953, trên cương vị Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn, đồng chí đã củng cố tổ chức, mở các lớp bồi dưỡng cán bộ, xây dựng hệ thống chi bộ, phát triển lực lượng vũ trang bán chuyên nghiệp, chỉ đạo các hoạt động vũ trang và đấu tranh chính trị. Chính sự kiên cường, sáng tạo và gần gũi quần chúng của đồng chí đã giúp phong trào cách mạng ở đô thị vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí được Trung ương Đảng tin tưởng, cử vào lại chiến trường miền Nam - nơi đồng chí gắn bó trong suốt gần 20 năm tiếp theo với vai trò lãnh đạo cao nhất tại các địa bàn chiến lược như Sài Gòn-Gia Định, Trung ương Cục miền Nam…

Đặc biệt, năm 1957, đồng chí được giao làm Quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ trong một bối cảnh vô cùng khó khăn. Tuy vậy, bằng bản lĩnh và sự nhạy bén, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo đưa Nghị quyết 15 của Trung ương vào thực tiễn, mở đường cho phong trào “Đồng khởi” năm 1960 tại Bến Tre - một mốc son khởi đầu cao trào đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Những thắng lợi liên tiếp của cách mạng ở Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ trong giai đoạn này đã góp phần vào sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), mà đồng chí là thành viên Ủy ban Trung ương lâm thời.

Đến năm 1972, với cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Gia Định, đồng chí tiếp tục đẩy mạnh ba mũi giáp công: chính trị, quân sự và binh vận, tạo thế và lực cho Tổng tiến công mùa Xuân 1975, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

* Nhà lãnh đạo tài năng, bản lĩnh 

Đất nước thống nhất, đồng chí được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 4/1977, đồng chí được Trung ương điều sang làm Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa Trung ương. Đây là giai đoạn đầy khó khăn khi đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, đời sống kinh tế-xã hội còn nhiều bất ổn, cơ chế quan liêu bao cấp kìm hãm sản xuất, hàng hóa khan hiếm, lạm phát tăng cao. Đồng chí rất trăn trở, suy nghĩ, tìm nhiều giải pháp đối với Thành phố Hồ Chí Minh. 

Sau đó, đồng chí được điều sang làm Trưởng ban Dân vận-Mặt trận Trung ương. Trên cương vị Trưởng ban, đồng chí có những đóng góp quan trọng về phát triển tư duy lý luận của Đảng đối với công tác dân vận, thể hiện trong chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng mà đồng chí trực tiếp tham mưu.

Năm 1978, tại Đại hội lần thứ VI Tổng Công đoàn Việt Nam, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí là người khởi xướng sự nghiệp đổi mới Công đoàn, góp phần xây dựng giai cấp công nhân nước ta không ngừng lớn mạnh, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Tháng 12/1981, đồng chí được Bộ Chính trị phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí đã mạnh dạn đề xuất nhiều cách làm mới: giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, khuyến khích tư nhân sản xuất, xóa bỏ rào cản hành chính cứng nhắc, khơi thông dòng chảy hàng hóa. Các mô hình thí điểm, như: Xí nghiệp dệt Thành Công, thành lập “Câu lạc bộ giám đốc”, đã chứng minh hiệu quả, tạo bước chuyển biến lớn cho nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời tạo tiền đề thực tiễn quý giá cho việc hình thành đường lối Đổi mới sau này.

Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (15 - 18/12/1986). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Tháng 12/1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được bầu làm Tổng Bí thư. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị đề ra đường lối đổi mới toàn diện - lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ hóa và mở rộng đối ngoại.

Các chính sách nổi bật được triển khai dưới thời kỳ của đồng chí như: Quyết định 217 về quyền tự chủ cho doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài 1987, Nghị quyết 10 năm 1988 về khoán nông nghiệp, bỏ chế độ tem phiếu, chuyển từ kinh tế hiện vật sang kinh tế hàng hóa… đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng và mở ra thời kỳ tăng trưởng. Đặc biệt, loạt bài “Những việc cần làm ngay” ký bút danh N.V.L đăng trên báo Nhân Dân đã tạo ra luồng gió mới trong đời sống chính trị-xã hội, lên án mạnh mẽ các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, vô cảm, khơi dậy niềm tin của Nhân dân vào công cuộc Đổi mới.

Đồng chí cùng với tập thể lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra những nguyên tắc chỉ đạo đổi mới như: đổi mới không tách rời mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, ý thức trách nhiệm của công dân; dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ… Đồng chí đề cao tư duy mới trong quan hệ đối ngoại, thể hiện qua Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới tư duy, điều chỉnh đường lối đối ngoại, tập trung giữ vững môi trường hòa hình để xây dựng và phát triển kinh tế.

Trong ảnh: Đồng chí Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng cho đồng chí Nguyễn Văn Linh (25/6/1992). Ảnh: Xuân Lâm - TTXVN

Trên cương vị Tổng Bí thư trong thời kỳ khởi đầu Đổi mới đầy gian khó, đồng chí không chỉ kiên quyết với các tư tưởng bảo thủ, trì trệ, mà còn đặc biệt chú trọng chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng - những "căn bệnh" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo. Loạt bài “Những việc cần làm ngay” ký bút danh N.V.L đăng trên Báo Nhân Dân năm 1987 đã lay động dư luận, thể hiện tinh thần dấn thân, đấu tranh không khoan nhượng với tiêu cực ngay trong nội bộ.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban soạn thảo cương lĩnh trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng; chỉ đạo sửa đổi Hiến pháp năm 1980, thông qua Hiến pháp 1992 để phù hợp với thời kỳ đổi mới của đất nước. 

Đặc biệt, việc đồng chí tự nguyện không tái cử Tổng Bí thư tại Đại hội VII để chuyển giao thế hệ là biểu hiện sinh động của đạo đức cách mạng: không tham quyền cố vị, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên cá nhân. Ngay cả khi lui về vai trò Cố vấn, đồng chí vẫn tiếp tục đóng góp cho công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, giữ trọn lời thề son sắt với Đảng và Nhân dân.

Sau khi rời vị trí Tổng Bí thư Ban Chấp hành hành Trung ương khóa VI, đồng chí Nguyễn Văn Linh trên cương vị Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, tiếp tục đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của Nhân dân; mở rộng quan hệ đối ngoại; đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tấm gương đạo đức, tinh thần dấn thân và tư duy đổi mới của đồng chí Nguyễn Văn Linh mãi là nguồn cảm hứng, bài học quý cho thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./. 

Phương Duyên