Trận đánh lịch sử tại sân bay Tân Sơn Nhất
Hà Nội (TTXVN 21/4/2025) Chiều 28/4/1975, sân bay Tân Sơn Nhất bất ngờ rung chuyển bởi 18 quả bom từ 5 chiếc máy bay A-37 ném xuống. Sau “đòn sấm sét” bất ngờ ấy, 24 máy bay của địch đã bị phá hủy, một kho nhiên liệu chứa đầy xăng bốc cháy, hàng trăm sĩ quan và binh lính bị tiêu diệt, cầu hàng không di tản tê liệt, binh lính và chính quyền Sài Gòn càng thêm hoảng loạn và mau chóng tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng binh chủng của ta phát huy thế tiến công trong Chiến dịch Hồ Chí Minh…
* Lấy vũ khí địch đánh địch
Có thể khẳng định, trong lịch sử của Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam, trận đánh ngày 28/4/1975 của Phi đội Quyết Thắng là một trong những trang sử hào hùng.
Ngày 29/3/1975, quân ta giải phóng thành phố Đà Nẵng, chiếm sân bay và căn cứ Sư đoàn không quân số 1 của Việt Nam cộng hòa. Số máy bay thu được có máy bay A-37. Từ số vũ khí này, Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân và Bộ Tổng tư lệnh đã hình thành hướng chiến thuật mới, đó là dùng máy bay thu được để đánh địch. Phương án này đã được Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp phê duyệt.
Trên cơ sở đó, ngày 2/4, Quân chủng Phòng không-Không quân đã triển khai lực lượng cán bộ kỹ thuật giỏi, đưa vào sân bay Đà Nẵng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, sửa chữa các máy bay thu được.
Và ngay sau khi bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Quân chủng: cho không quân ta dùng máy bay vừa lấy được của địch ném bom vào sào huyệt quân ngụy ở Sài Gòn trong hai ngày 27 hoặc 28/4, nếu chậm trễ sẽ không có thời cơ lập công.
* Trận đánh lịch sử, có một không hai của Không quân nhân dân Việt Nam
Để có được trận ném bom thành công vang dội vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975, các đơn vị không quân đã có sự chuẩn bị cấp tốc cho trận đánh. Tất cả diễn ra chỉ trong khoảng một tháng, đặc biệt đội ngũ cán bộ kỹ thuật và phi công phải tự nghiên cứu tài liệu bằng tiếng Anh, học chuyển loại máy bay A-37 thu được của không quân địch chỉ trong vài ngày.
Theo Đại tá Nguyễn Văn Lục, để chuyển loại máy bay, phi công cần khoảng 6 tháng, trong đó 2 tháng học lý thuyết, 4 tháng học thực hành bay (tương đương 60-80 giờ bay). 6 tháng ấy, cả phi đội gói gọn lại trong 3,5 ngày, gồm hơn 1 ngày học lý thuyết và 2,5 ngày thực hành. Mỗi người được bay 3 chuyến, thời gian bay 1 giờ 30 phút.
Những phi công của Phi đội Quyết thắng thực hiện nhiệm vụ gồm: Nguyễn Văn Lục (chỉ huy), Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng, Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On, đã vượt qua những điều “không tưởng” như chỉ kịp học lái máy bay chuyển loại trong vài ngày, bay chiến đấu không radar, không dẫn đường, không quen địa bàn chiến đấu, thời tiết không thuận… để hoàn thành sứ mệnh lịch sử ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất.
Việc lựa chọn mục tiêu đánh vào Sài Gòn có tới sáu địa điểm gồm: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Kho xăng Nhà Bè, sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi thảo luận, phi đội đề nghị được tấn công vào sân đỗ máy bay Tân Sơn Nhất, bởi đây là mục tiêu diện rộng, dễ nhận biết, dễ phát hiện từ xa, thuận lợi cho việc tấn công. Đặc biệt, khi đánh trúng mục tiêu này sẽ gây tiếng nổ, cháy lớn làm cho địch náo loạn và hoảng sợ.
Sau khi công tác chuẩn bị cơ bản, với mục tiêu là Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định chọn ném bom các vị trí sân đỗ máy bay, kho tàng nơi cất giấu máy bay quân sự của ngụy. Khi Sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh sẽ làm các cơ quan còn lại của Mỹ nhanh chóng tháo lui, do lo sợ không còn đường hàng không, các đơn vị quân ngụy sẽ rúng động, góp phần sụp đổ nhanh sức kháng cự, khiến quân ngụy nhanh chóng đầu hàng.
Kế hoạch tác chiến của trận đánh là sau khi cất cánh, phi đội bay theo đường bay từ sân bay Thành Sơn qua Phan Thiết, qua Hàm Tân, đến sân bay Tân Sơn Nhất. Độ cao bay bằng là 400 m, để giữ bí mật, trên đường đi không sử dụng vô tuyến điện, chỉ được dùng ám tín hiệu.
Đội hình được xác định: Bay số 1 dẫn đường là phi công Nguyễn Thành Trung bởi ông thông thuộc địa hình khu vực tác chiến, là người đã ném bom Dinh Độc Lập ngày 8/4; bay số 2 là phi công Từ Đễ; bay số 3 là phi công Nguyễn Văn Lục; bay số 4 gồm Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On và bay số 5 là phi công Hán Văn Quảng, bay sau cùng quan sát bảo vệ phía sau phi đội. Để bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ đối với địch, đồng thời tránh được hỏa lực phòng không của ta, toàn đội không sử dụng hệ thống thông tin liên lạc. Họ bay theo cự ly đã định, bảo đảm canh gác, cảnh giới, có công kích, có yểm hộ.
16 giờ 25 phút ngày 28/4/1975, phi đội được lệnh xuất kích.
Theo Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Từ Đễ, đến sân bay Tân Sơn Nhất, phi công Nguyễn Thành Trung báo mục tiêu cho toàn phi đội rồi nhắm đúng khu tập trung máy bay quân sự bổ nhào xuống cắt bom nhưng do hệ thống cắt bom trục trặc, bom không rơi. Lúc này, phi công Từ Đễ vẫn bay sát máy bay số 1 nối tiếp bổ nhào xuống cắt bom. Cùng lúc, các phi công Lục, Quảng, Vượng và On cũng lần lượt nhào xuống cắt bom. Phi công Nguyễn Thành Trung quay lại lần thứ 3 cắt luôn cả 4 quả cùng lúc. Tiếng nổ rung chuyển Sài Gòn. Lúc này, các phi công còn nghe rõ tiếng hỏi dồn dập, thất thanh của địch từ sở chỉ huy sân bay Tân Sơn Nhất: “A-37 của phi đoàn nào, cho biết phiên hiệu”.
18 giờ 15 phút ngày 28/4/1975, cả 5 máy bay của phi đội lần lượt hạ cánh an toàn tại Sân bay Thành Sơn. Kết thúc thắng lợi trận đánh lịch sử, có một không hai của Không quân nhân dân Việt Nam.
Sau này, Phi đội trưởng Nguyễn Văn Lục đã chia sẻ: đây là chiến công chung, không chỉ của những phi công trực tiếp tham gia trận chiến mà còn là công sức của các đồng chí chỉ huy và đội ngũ phục vụ. Thành công của trận đánh cũng đến từ đóng góp, hỗ trợ lớn của những phi công, cán bộ kỹ thuật thu dung, những người đã đứng về phía dân tộc, phía chính nghĩa.
Từng là một phi công của Việt Nam cộng hòa trước đó, sau này đã hỗ trợ Không quân ta rất nhiều, ông Trần Văn On chia sẻ: quan hệ giữa chúng tôi với phi công từ miền Bắc vào lúc đó rất tốt. Ban đầu khi được trưng dụng hỗ trợ các anh ấy làm quen với máy bay A-37, tôi cũng hơi e dè, nhưng các anh ấy rất thoải mái, không phân biệt, đối xử. Chúng tôi cùng uống trà, trao đổi, thậm chí còn cùng tán dóc, kể chuyện tiếu lâm.
Trong tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh giá về trận đánh Sân bay Tân Sơn Nhất chiều 28/4/1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “đây là một trận phối hợp tuyệt đẹp, một trận đánh hiệp đồng quân chủng, binh chủng đầy đủ nhất từ trước tới nay của Quân đội ta vào thời điểm hết sức quan trọng, có tác động lớn đến diễn biến chiến dịch, đẩy địch đến một cơn hoảng loạn mới”.
Trận đánh Sân bay Tân Sơn Nhất vào thời điểm then chốt của Chiến dịch Hồ Chí Minh và vào mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, là một đòn hiểm bất ngờ làm cho địch choáng váng, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội binh chủng hợp thành phát triển thế tấn công, đẩy địch nhanh chóng vào thế sụp đổ hoàn toàn./.
Anh Anh
[Nguồn: Sách "Những chiến dịch có ý nghĩa thắng lợi trong Đại thắng mùa xuân 1975", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010]




