Giáo sư, Viện sĩ

Trần Huy Liệu

  • Họ và tên: Trần Huy Liệu
  • Bút danh/ Bút hiệu/ Nghệ danh:Đấu Nam, Côi Vị, Hải Khách
  • Ngày sinh: 5/11/1901
  • Ngày mất: 28/7/1969
  • Quê quán: thôn Vân Cát, xã Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình)
  • Khen thưởng/Giải thưởng:

    - Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996)

  • Tóm tắt quá trình công tác:

    - Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu sinh tại thôn Vân Cát, xã Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình), trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước. Từ sớm, ông đã tham gia hoạt động yêu nước, sử dụng báo chí và văn chương làm phương tiện đấu tranh chống chế độ thực dân.

    - Năm 1924, ông rời quê hương vào Nam lập nghiệp, đồng thời tích cực tham gia phong trào yêu nước và đấu tranh dân chủ.

    - Tháng 6/1924, ông được cử làm chủ bút tờ báo "Nông cổ Mín đàm". Được một thời gian, tờ báo "Nông cổ Mín đàm" bị đình bản. Ông cùng đồng nghiệp cho xuất bản tờ báo "Ngòi bút sắt". Tờ báo "Ngòi bút sắt" lại bị thực dân Pháp đình bản.

    - Đầu năm 1927, ông sáng lập tờ báo "Pháp Việt nhất gia". Tờ báo đã góp phần vạch trần chủ trương "Pháp Việt đề huề" của Đảng lập hiến do Bùi Quang Chiêu làm lãnh tụ. Tờ báo "Pháp Việt nhất gia" lại bị đình bản và ông chủ bút bị bắt tù 6 tháng tại Khám lớn Sài Gòn với tội danh có chân trong tổ chức yêu nước.

    - Năm 1928, ra tù, ông thành lập "Cường học thư xã", chuyên xuất bản sách nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí, giúp cho nhiều thanh niên giác ngộ cách mạng. Với các bút danh "Đấu Nam", "Côi Vị", "Hải Khách"... các bài viết của ông nổi tiếng về tinh thần yêu nước, chống thực dân Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ, đòi quyền sống cho dân nghèo, đòi thả nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, phát động quần chúng để tang Phan Chu Trinh...

    - Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo. Trong những năm tháng bị giam cầm tại “địa ngục trần gian”, qua tiếp xúc với các chiến sĩ cộng sản, ông từng bước tiếp cận và giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy ở trong tù nhưng ông vẫn say mê với sự nghiệp làm báo của mình, miệt mài viết với bút danh Hải Khách, làm Chủ bút tờ "Hòn Cau" và "Tiếng sóng bể" nhằm động viên khí tiết của những người cách mạng và yêu nước. Ra tù và bị trục xuất về Bắc Kỳ, ông vẫn tiếp tục sự nghiệp báo chí.

    - Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được Đảng phân công cùng đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) - người cũng vừa từ nhà tù Côn Đảo trở về - làm báo nhằm khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc và cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân. Sau đó, ông được Đảng giao đảm nhiệm cương vị chủ bút tờ báo "Tin Tức" - cơ quan ngôn luận công khai quan trọng của Đảng tại Hà Nội. Tờ "Tin Tức" đã trở thành người bạn thân thiết của các tầng lớp nhân dân, nhất là giai cấp cần lao. Khi tờ "Tin Tức" bị chính quyền thực dân đóng cửa, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định cho ra tờ "Đời nay" và vẫn do Trần Huy Liệu làm chủ bút.

    - Tháng 10/1939, ông bị bắt và bị đày lên nhà tù Sơn La. Ông cùng đồng chí Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác xuất bản tờ báo "Suối reo" (tờ báo bí mật, lưu hành trong nhà tù) nhằm tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng, giáo dục, cổ vũ đồng chí, đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu và khí tiết của người cộng sản.

    - Sau sự kiện một số tù nhân Sơn La vượt ngục, ông và một số đồng chí bị chuyển về nhà tù Bá Vân ở Nghĩa Lộ. Tại đây, ông lại cùng các đồng chí sáng lập hai tờ báo "Dòng sông Công" và "Đường nghĩa", góp phần tích cực vào việc động viên cổ vũ các chiến sĩ cách mạng đấu tranh chống chế độ tù hà khắc.

    - Tháng 3/1945, ông tham gia cuộc nổi dậy phá nhà giam ở Nghĩa Lộ, vượt ngục trở về Hà Nội và hòa mình vào cao trào kháng Nhật, cứu nước. Ông được Đảng giao làm Thư ký tòa soạn báo "Cứu Quốc" - Cơ quan của Tổng bộ Việt Minh cùng đồng chí Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác do đồng chí Lê Quang Đạo - Bí thư Xứ ủy phụ trách.

    - Ngày 13/8/1945, ông dự Đại hội Quốc dân Tân Trào và được Đại hội bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ông là người trực tiếp soạn thảo bản "Quân lệnh số 1", phát lệnh Tổng khởi nghĩa, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    - Ngày 30/8/1945, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền đầu tiên trong Chính phủ lâm thời, ông được Chính phủ cử vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại - vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn. Sự kiện lịch sử này đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc.

    - Từ ngày 1/1/1946, ông làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp. Sau đó, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ quan trọng.

    - Năm 1953, nhận thức sâu sắc vai trò của công tác nghiên cứu lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng, ông chủ động đề xuất với Trung ương Đảng thành lập Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa và được giao làm Trưởng ban. Đây là tổ chức nghiên cứu Khoa học xã hội đầu tiên của nước ta, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngày nay. Trên cương vị nhà nghiên cứu, ông đã dành nhiều tâm huyết cho công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn và truyền bá tri thức lịch sử dân tộc.

    - Năm 1960, Viện Sử học chính thức được thành lập. Ông được cử giữ chức Viện trưởng. Ông cũng được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

    - Ông được bầu làm Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hòa dân chủ Đức.

    - Bằng tài năng xuất chúng, tinh thần tự học hiếm thấy và cường độ lao động phi thường, Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu đã để lại cho nền sử học nước nhà 290 công trình nghiên cứu và các bản Hồi ký, trong đó công trình "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp" đã được đưa vào làm sách giáo khoa dạy trong các trường Đại học và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên, được Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức tặng Huân chương Danh dự.

    - Ngày 28/7/1969, ông từ trần.

  • Tác phẩm chính:

    - "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp", gồm 3 tập

  • Thông tin thêm:

    - 31/10/2026: Tại xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình diễn ra Lễ kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 - 5/11/2026), và công bố, đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đối với Nhà lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu. Nhà lưu niệm không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ vật gắn với cuộc đời, sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu mà còn là địa chỉ có ý nghĩa trong giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần hiếu học. Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu được công nhận Di tích quốc gia là dấu mốc có ý nghĩa, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa gắn với cuộc đời và sự nghiệp của nhà sử học Trần Huy Liệu.

Giáo sư, Viện sĩ

Trần Huy Liệu

  • Họ và tên: Trần Huy Liệu
  • Bút danh/ Bút hiệu/ Nghệ danh:Đấu Nam, Côi Vị, Hải Khách
  • Ngày sinh: 5/11/1901
  • Ngày mất: 28/7/1969
  • Quê quán: thôn Vân Cát, xã Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình)
  • Khen thưởng/Giải thưởng:

    - Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996)

  • Tóm tắt quá trình công tác:

    - Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu sinh tại thôn Vân Cát, xã Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình), trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước. Từ sớm, ông đã tham gia hoạt động yêu nước, sử dụng báo chí và văn chương làm phương tiện đấu tranh chống chế độ thực dân.

    - Năm 1924, ông rời quê hương vào Nam lập nghiệp, đồng thời tích cực tham gia phong trào yêu nước và đấu tranh dân chủ.

    - Tháng 6/1924, ông được cử làm chủ bút tờ báo "Nông cổ Mín đàm". Được một thời gian, tờ báo "Nông cổ Mín đàm" bị đình bản. Ông cùng đồng nghiệp cho xuất bản tờ báo "Ngòi bút sắt". Tờ báo "Ngòi bút sắt" lại bị thực dân Pháp đình bản.

    - Đầu năm 1927, ông sáng lập tờ báo "Pháp Việt nhất gia". Tờ báo đã góp phần vạch trần chủ trương "Pháp Việt đề huề" của Đảng lập hiến do Bùi Quang Chiêu làm lãnh tụ. Tờ báo "Pháp Việt nhất gia" lại bị đình bản và ông chủ bút bị bắt tù 6 tháng tại Khám lớn Sài Gòn với tội danh có chân trong tổ chức yêu nước.

    - Năm 1928, ra tù, ông thành lập "Cường học thư xã", chuyên xuất bản sách nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí, giúp cho nhiều thanh niên giác ngộ cách mạng. Với các bút danh "Đấu Nam", "Côi Vị", "Hải Khách"... các bài viết của ông nổi tiếng về tinh thần yêu nước, chống thực dân Pháp, đòi quyền tự do, dân chủ, đòi quyền sống cho dân nghèo, đòi thả nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, phát động quần chúng để tang Phan Chu Trinh...

    - Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo. Trong những năm tháng bị giam cầm tại “địa ngục trần gian”, qua tiếp xúc với các chiến sĩ cộng sản, ông từng bước tiếp cận và giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy ở trong tù nhưng ông vẫn say mê với sự nghiệp làm báo của mình, miệt mài viết với bút danh Hải Khách, làm Chủ bút tờ "Hòn Cau" và "Tiếng sóng bể" nhằm động viên khí tiết của những người cách mạng và yêu nước. Ra tù và bị trục xuất về Bắc Kỳ, ông vẫn tiếp tục sự nghiệp báo chí.

    - Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được Đảng phân công cùng đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) - người cũng vừa từ nhà tù Côn Đảo trở về - làm báo nhằm khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc và cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân. Sau đó, ông được Đảng giao đảm nhiệm cương vị chủ bút tờ báo "Tin Tức" - cơ quan ngôn luận công khai quan trọng của Đảng tại Hà Nội. Tờ "Tin Tức" đã trở thành người bạn thân thiết của các tầng lớp nhân dân, nhất là giai cấp cần lao. Khi tờ "Tin Tức" bị chính quyền thực dân đóng cửa, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định cho ra tờ "Đời nay" và vẫn do Trần Huy Liệu làm chủ bút.

    - Tháng 10/1939, ông bị bắt và bị đày lên nhà tù Sơn La. Ông cùng đồng chí Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác xuất bản tờ báo "Suối reo" (tờ báo bí mật, lưu hành trong nhà tù) nhằm tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng, giáo dục, cổ vũ đồng chí, đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu và khí tiết của người cộng sản.

    - Sau sự kiện một số tù nhân Sơn La vượt ngục, ông và một số đồng chí bị chuyển về nhà tù Bá Vân ở Nghĩa Lộ. Tại đây, ông lại cùng các đồng chí sáng lập hai tờ báo "Dòng sông Công" và "Đường nghĩa", góp phần tích cực vào việc động viên cổ vũ các chiến sĩ cách mạng đấu tranh chống chế độ tù hà khắc.

    - Tháng 3/1945, ông tham gia cuộc nổi dậy phá nhà giam ở Nghĩa Lộ, vượt ngục trở về Hà Nội và hòa mình vào cao trào kháng Nhật, cứu nước. Ông được Đảng giao làm Thư ký tòa soạn báo "Cứu Quốc" - Cơ quan của Tổng bộ Việt Minh cùng đồng chí Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác do đồng chí Lê Quang Đạo - Bí thư Xứ ủy phụ trách.

    - Ngày 13/8/1945, ông dự Đại hội Quốc dân Tân Trào và được Đại hội bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ông là người trực tiếp soạn thảo bản "Quân lệnh số 1", phát lệnh Tổng khởi nghĩa, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    - Ngày 30/8/1945, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền đầu tiên trong Chính phủ lâm thời, ông được Chính phủ cử vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại - vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn. Sự kiện lịch sử này đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc.

    - Từ ngày 1/1/1946, ông làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp. Sau đó, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ quan trọng.

    - Năm 1953, nhận thức sâu sắc vai trò của công tác nghiên cứu lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng, ông chủ động đề xuất với Trung ương Đảng thành lập Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa và được giao làm Trưởng ban. Đây là tổ chức nghiên cứu Khoa học xã hội đầu tiên của nước ta, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngày nay. Trên cương vị nhà nghiên cứu, ông đã dành nhiều tâm huyết cho công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn và truyền bá tri thức lịch sử dân tộc.

    - Năm 1960, Viện Sử học chính thức được thành lập. Ông được cử giữ chức Viện trưởng. Ông cũng được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

    - Ông được bầu làm Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hòa dân chủ Đức.

    - Bằng tài năng xuất chúng, tinh thần tự học hiếm thấy và cường độ lao động phi thường, Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu đã để lại cho nền sử học nước nhà 290 công trình nghiên cứu và các bản Hồi ký, trong đó công trình "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp" đã được đưa vào làm sách giáo khoa dạy trong các trường Đại học và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên, được Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức tặng Huân chương Danh dự.

    - Ngày 28/7/1969, ông từ trần.

  • Tác phẩm chính:

    - "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp", gồm 3 tập

  • Thông tin thêm:

    - 31/10/2026: Tại xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình diễn ra Lễ kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 - 5/11/2026), và công bố, đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đối với Nhà lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu. Nhà lưu niệm không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ vật gắn với cuộc đời, sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu mà còn là địa chỉ có ý nghĩa trong giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần hiếu học. Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu được công nhận Di tích quốc gia là dấu mốc có ý nghĩa, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa gắn với cuộc đời và sự nghiệp của nhà sử học Trần Huy Liệu.


Có (0) kết quả được tìm thấy cho từ khóa