Vận dụng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhân vật liên quan
Hà Nội (TTXVN 18/5/2025) Trong suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định đại đoàn kết dân tộc là phương thức, là sức mạnh và là mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam.
Kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 95 năm qua, Đảng ta đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập.
* “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta; là biểu tượng của ý chí, niềm tin và cội nguồn sức mạnh, nhân tố giữ vai trò quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt, bài học lớn của cách mạng Việt Nam, được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, dày công vun đắp.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” (1).
Người cũng chỉ rõ sức mạnh lớn nhất của cách mạng Việt Nam là nằm ở nhân dân và nếu đoàn kết được nhân dân thì sẽ tạo ra sức mạnh vô địch: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh kết nối của nhân dân” (2). Người cũng khẳng định: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong" (3). Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” (4).
Để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, bổ sung và phát huy vai trò của họ, làm cho họ trở thành một động lực cách mạng quan trọng; đồng thời khẳng định liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân. Người chỉ rõ “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây” (5). Thực tế cho thấy, liên minh công-nông-trí không những là yêu cầu khách quan về chính trị, làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển bền vững kinh tế, vǎn hoá, xã hội của đất nước.
Đây cũng chính là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thành lập và lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận Thống nhất Việt Minh-Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: Với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh" (6).
Thực tiễn đã chứng minh, 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò, trọng trách và sứ mệnh vẻ vang của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn thực hiện tốt chức năng là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận trong xã hội, khơi dậy lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp sức đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930-1945), Mặt trận đã tập hợp mọi tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống đại đoàn kết của dân tộc, luôn sát cánh cùng lực lượng vũ trang nhân dân đứng lên Tổng khởi nghĩa thành công, giành độc lập dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các tầng lớp nhân dân, các đảng phái, dân tộc, tôn giáo, nhân sĩ, trí thức yêu nước và tiến bộ đã luôn đoàn kết, thống nhất; hết lòng giúp đỡ, nuôi dưỡng, che chở và cùng với lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp là Quân đội nhân dân, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch, đánh bại kẻ thù, hoàn thành vẻ vang cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Có thể thấy, đoàn kết chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng, cũng là cội nguồn sức mạnh của toàn thể dân tộc. Nhờ đó, trải qua bao khó khăn, thử thách, cách mạng Việt Nam đã đi đến được thắng lợi cuối cùng, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” (7).
Ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của đoàn kết trong Đảng, trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (8).
* Phát huy tinh thần đại đoàn kết trong thời đại mới
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, Đảng ta đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Từ năm 1986 đến nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới, tiêu biểu là các Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng; đặc biệt là Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực tiễn cho thấy, những thành tựu kinh tế vượt bậc của Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới là do sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng; sự đoàn kết thống nhất, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có vai trò quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên lọt vào top 40 nền kinh tế hàng đầu, có quy mô thương mại trong top 20 quốc gia trên thế giới. Tính đến hết năm 2024, quy mô GDP theo giá hiện hành đã đạt 476,3 tỷ USD, đưa đất nước trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới; có quan hệ Đối tác chiến lược với 38 nước và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ, được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điểm sáng về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Cùng với thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xã hội, sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội ngày càng được khẳng định, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Phương thức đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân thông qua việc tổ chức Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư là một cách làm sáng tạo, hiệu quả, ngày càng lan tỏa sâu rộng. Mặt trận đã phát động nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua, xây dựng nhiều mô hình thu hút, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, cá nhân tiêu biểu trong các giới, các dân tộc, tôn giáo, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đồng tình, tham gia, hưởng ứng. Đặc biệt, việc phối hợp triển khai Chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước hoàn thành trong năm 2025 là hoạt động tiêu biểu, nổi bật trong việc đổi mới phương thức triển khai công tác an sinh xã hội.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2024-2029, khai mạc ngày 17/10/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Sau 40 năm đổi mới đất nước, với thời cơ, vận hội mới, chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là kỷ nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Và để thực hiện mục tiêu trên, theo Tổng Bí thư Tô Lâm, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại có ý nghĩa then chốt - đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”./.
Diệp Ninh (tổng hợp)
(2): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 10, tr. 453
(3): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr. 280
(4): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 13, tr. 120
(5): Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 9, tr. 244
(6): Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 10, tr. 131
(7), (8): Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập15, tr.621-622.









