Chiến dịch Tây Nguyên (4-24/3/1975)

 Tây Nguyên thuộc dải đất phía tây Trung Trung Bộ là vùng cao nguyên rừng núi nối tiếp nhau theo hướng bắc nam. Bắc Tây Nguyên núi cao, rừng rậm hiểm trở, nam Tây Nguyên (từ đường 19 trở vào), địa hình bằng phẳng hơn. Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn (nay là Đắk Nông), Quảng Đức (nay là Lâm Đồng). Đường 14 chạy dọc từ bắc xuống nam nối các thị xã của Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ. Các con đường ngang 19,7,21 nối Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển, rất thuận tiện cho cơ động lực lượng. Tây Nguyên có hai sông lớn là sông Pô Cô và sông Sêrêpôc, vào mùa mưa dòng chảy của sông rất mạnh, nên việc cơ động các phương tiện khó khăn. Tây Nguyên là vùng chiến lược quan trọng, vì vậy địch rất chú trọng hoạt động quân sự nhằm đè bẹp phong trào Cách mạng của ba nước Đông Dương, ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc vào và từ vùng núi xuống đồng bằng. Dọc theo đường 14 là hệ thống các căn cứ quân sự, trong đó có các căn cứ cấp sư đoàn và quân đoàn được tổ chức vững chắc thành tuyến phòng ngự cơ bản làm nòng cốt cho hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Lực lượng địch ở Tây Nguyên gồm Quân đoàn 2 thuộc Quân khu 2 (Sở chỉ huy đặt ở Pleiku) và lực lượng tăng cường gồm Sư đoàn Bộ binh 23 và 7 tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 230 pháo, 1 sư đoàn không quân.
     Bộ tư lệnh Chiến dịch bàn phương án tác chiến (17.2.1975)

Sau khi hạ quyết tâm mở Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến dịch; Tư lệnh, Trung tướng Hoàng Minh Thảo; Chính ủy, Đại tá Đặng Vũ Hiệp; các Phó tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Lăng, Đại tá Phan Hân, Đại tá Nguyễn Năng, Đại tá Nguyễn Long, Bộ phận đại diện của Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh do Đại tướng Văn Tiến Dũng chủ trì trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn (10, 320, 316,3,968) và 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn tăng thiết giáp, 3 trung đoàn pháo phòng không cùng lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum.
Kế hoạch chiến dịch: Buôn Ma Thuột - Đức Lập là hướng và khu vực tác chiến chủ yếu, Đức Lập là mục tiêu đánh mở đầu chiến dịch. Mục tiêu chủ yếu quyết định là thị xã Buôn Ma Thuật. Hướng và mục tiêu quan trọng là Thuần Mần (Cẩm Ga) nhàm cắt đường 14, chia cắt địch về chiến dịch, ngăn chặn lực lượng dự bị địch từ Pleiku xuống. Hướng phát triển là Phú Bổn, Quảng Đức, bao gồm cả thị xã Cheo Reo. Hướng bao vây chia cắt là trục đường 19 cắt ở An Khê, đường 21 cắt đoạn đông tây Chư Cúc. Hướng nghi binh chiến dịch, giam chân khối chủ lực của Quân đoàn 2 địch là Kon Tum, Pleiku. Công tác chuẩn bị chiến dịch được tiến hành theo 2 bước (bước chuẩn bị trước và bước chuẩn bị trực tiếp). Trong bước chuẩn bị trước, trên hướng Pleiku, ta diệt các căn cứ Chư Nghé, Lệ Ngọc, Ea Súp. Hướng Kon Tum, ta diệt cứ điểm Kon Rốc, đánh chiếm quận lị Măng Đen và Đắk Pét. Đến đầu năm 1975, vùng giải phóng của ta được mở rộng và áp sát các thị xã, thị trấn và đường giao thông quan trọng của địch ở hầu hết các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bôn. Bước chuẩn bị trực tiếp được tiến hành từ 21.1.1975. Bộ tư lệnh Chiến dịch bố trí lực lượng thành các cụm theo nhiệm vụ. Cụm lực lượng trên hướng Buôn Ma Thuột gồm Sư đoàn 316 (3 trung đoàn 148, 174, 149), Trung đoàn 95B (Sư đoàn 325), Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10), Tiểu đoàn 21 (Đoàn 559), Trung đoàn Đặc công 198 và Tiểu đoàn Đặc công 27, Trung đoàn Xe tăng thiết giáp 273, 2 trung đoàn pháo (40, 675), 2 trung đoàn phòng không (232, 234), 2 trung đoàn công binh (7, 575), Trung đoàn Thông tin 29 và lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk. Cụm lực lượng trên hướng Đức Lập - Quảng Đức gồm Sư đoàn 10 (thiếu), Trung đoàn 271, 1 tiểu đoàn pháo thuộc Trung đoàn Pháo 40, Tiểu đoàn Đặc công 14. Cụm lực lượng trên hướng đường 14 - Thuần Mần: Sư đoàn 320. Cụm lực lượng trên đường 21: Trung đoàn 25. Cụm lực lượng trên đường 19: Sư đoàn 3 (thiếu) ở Bình Khê và Trung đoàn 95A ở Plei Pôn. Hướng Kon Turn và Pleiku: Sư đoàn 968 và lực lượng vũ trang hai tình đảm nhiệm. Ngày 23.2.1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng đại diện Bộ Tổng tư lệnh chính thức phê chuẩn quyết tâm, kế hoạch của Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên. Chiến dịch diễn ra 4 đợt.
Đợt 1 (4-9.3.1975), nghi binh tạo thế, triển khai lực lượng, chia cắt chiến dịch; tạo điều kiện thuận lợi cho trận then chốt thứ nhất: ngày 4-7.3, trên đường 19, Trung đoàn 95A đã tiêu diệt một loạt căn cứ địch, làm chủ đoạn đường từ ngã ba Plei Pôn đến ấp Phú Yên. Sư đoàn 3 tiến công tiêu diệt 11 căn cứ địch ở Cây Rui, Chóp Nón, Hòn Kiềng, Cột Cờ, Truông Ói, Che Chẻ, Đồi Đá, Làng Mai, làm chú đoạn đường từ Thương Giáng đến Bình Khê. Trên đường 21, Trung đoàn 25 làm chủ đoạn đường ở đông Chư Cúc; trên đường 14 Trung đoàn 9 (Sư đoàn 320) phục kích địch ở nam cầu Ea H’leo, diệt 8 xe trong đoàn xe 15 chiếc thuộc Trung đoàn 45 địch từ Pleiku về Buôn Ma Thuột. Ngày 8-9.3, Trung đoàn 48 được tăng cường 3 pháo 105 mm tiến công Thuần Mần, tiêu diệt 257 lính bảo an, làm chù quận lị. Sư đoàn 968 cắt đường 14 giữa Kon Tum và Pleiku. Sư đoàn 10 tiến công Đức Lập (quận lị nằm trên đường 14, tây nam tx Buôn Ma Thuật 50 km, án ngữ giữa Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Địch xây dựng ờ đây 5 cứ điểm mạnh có lô cốt, hầm ngầm và hệ thống vật cản, trong căn cứ có sở chỉ huy hành quân Sư đoàn 23, 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội pháo 105 mm, 1 chi đoàn xe tăng, 5 đại đội bảo an và một số đơn vị trinh sát, công binh trực thuộc Sư đoàn 23); 9 giờ ngày 8.3, các trung đoàn 28, 66 đã làm chủ căn cứ Núi Lửa và sở chỉ huy hành quân Sư đoàn 23; địch dựa vào lô cốt hầm ngầm chống cự quyết liệt, Sư đoàn 10 tổ chức nhiều đợt tiến công, đưa pháo vào gần bắn thẳng làm chủ được quận lị. Sau 6 ngày đêm chiến đấu tạo thế chiến dịch, Buôn Ma Thuật hoàn toàn bị chia cắt từ mọi phía.

Quân Giải Phóng đánh chiếm Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn ở Buôn Ma Thuật

Đợt 2(10-11.3.1975), tiến công thị xã Buôn Ma Thuật, trận then chốt thứ nhất thắng lợi. thị xã Buôn Ma Thuật và vùng ven tỉnh lị Đắk Lắk có gần 160 nghìn dân, địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi cho triển khai lực lượng và phương tiện. Đen 9.3, lực lượng địch ở đây gồm Sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 23, Ban chỉ huy Tiểu khu Đắk Lắk, Trung đoàn 53 (thiếu), 1 tiểu đoàn xe thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, các phân đội trực thuộc Sư đoàn 23, hậu cứ 2 trung đoàn 44, 45 và 2 tiểu đoàn, một số đại đội bảo an dân vệ, cảnh sát; tổng số khoảng 8.400 quân, tổ chức phòng thủ thành 3 tuyến. Tuyến ngoài cách thị xã 30 km; tuyến giữa có 2 sân bay, hệ thống hoả lực mạnh, công sự và vật cản kiên cố; tuyến trong có khu phòng thủ then chốt là căn cứ Sở chỉ huy Sư đoàn 23. 16 giờ ngày 9.3, Bộ tư lệnh Chiến dịch chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia tiến công Buôn Ma Thuột triển khai đội hình trên 5 hướng. Sư đoàn 316, tổ chức 3 mũi tiến công trên hướng tây bắc, tây nam và nam. Trên hướng đông bắc, Trung đoàn 95B triển khai đánh vào ngã sáu, Trung đoàn 24 tổ chức 1 mũi thọc sâu của chiến dịch ở hướng tây. 1 giờ 30 phút ngày 10.3, các đội đặc công thuộc Trung đoàn 198 luồn sâu lót sẵn bất ngờ tiến công kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình, sân bay thị xã và hậu cứ Trung đoàn 53, làm chù được một số mục tiêu quan trọng. 2 giờ 5 phút, các phân đội HI2, ĐKB và các cụm pháo chiến dịch bắn phá các mục tiêu trong thị xã gồm căn cứ Sư đoàn 23, tiểu khu Đắk Lắk, các khu pháo binh, thiết giáp. Lợi dụng hoả lực pháo binh chế áp, bộ binh và xe tăng ta trên các hướng phát triển tiến công. Trung đoàn 148 phối hợp xe tăng thiết giáp đánh chiếm điểm cao Chư Ebua sau đó phát triển vào đánh chiếm khu pháo binh, thiết giáp và hậu cứ thuộc Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 45 địch), phát triển theo đường Phan Bội Châu tiêu diệt địch ở chùa Bồ Đồ. Trung đoàn 174 được phối thuộc 1 đại đội xe tăng, sử dụng 2 tiểu đoàn đánh chiếm điểm cao Chư Duê, bộ phận còn lại đánh chiếm kho xăng và khu vực các đại đội trực thuộc của Sư đoàn 23 ở nam đường 429. Trung đoàn 149 tiến vào thị xã theo đường Thống Nhất, tiếp đó đánh vào cổng chính hậu cứ Sư đoàn 23. Địch chống trả quyết liệt, trung đoàn chỉ đánh chiếm được khu cư xá sĩ quan, khu nhà thờ quân đội. Trung đoàn 95B đánh chiếm Ngã Sáu, địch chống trả quyết liệt, 2 tiểu đoàn 4 và 5 thuộc trung đoàn được tăng cường 4 xe tăng, liên tục tiến công và đánh địch phản kích; đến 13 giờ 30 phút ngày 10.3, trung đoàn làm chủ Ngã Sáu, sau đó phát triển tiến công vào tiểu khu Đắk Lắk, 15 giờ làm chủ tiểu khu. Trung đoàn 24 phối hợp với xe tăng đánh chiếm khu truyền tin, quân y và tổ chức đánh bại đợt phản kích của địch, giữ vững khu vực đã chiếm và chuẩn bị thọc sâu vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch. Bị tiến công từ nhiều hướng, địch co về phòng thủ tại căn cứ Sư đoàn 23 đồng thời sử dụng 79 lần chiếc máy bay ném bom vào đội hình tiến công của ta. Bộ tư lệnh Chiến dịch quyết tâm nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trước khi địch đưa lực lượng đến ứng cứu. 6 giờ ngày 11.3, ta tiến công vào căn cứ Sư đoàn 23; sau 2 giờ hoả lực chuẩn bị, bộ binh, xe tăng từ nhiều mũi tiến công, 10 giờ 30 phút ngày 11.3, ta làm chủ trận địa. Trận đánh thắng lợi sau 32 giờ tiến công quyết liệt, ta tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng, bắt toàn bộ chỉ huy địch (xem thêm Trận Buôn Ma Thuật, 10 11 3.1975).
Đợt 3 (14-18.3.1975), đánh trận then chốt thứ 2, tiêu diệt Sư đoàn 23, đánh bại phản đột kích của lực lượng dự bị địch: ngày 12.3, địch dùng máy bay trực thăng đố Trung đoàn Bộ binh 45 (Sư đoàn 23) và 1 đại đội pháo xuống điểm cao 581 (đông thị xã) liên kết với tàn quân của Liên đoàn Biệt động 21 rút về đây, tổ chức phản kích nhằm chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột. Đêm 13.3, Sư đoàn 10 sử dụng Trung đoàn 24, được phối thuộc 1 đại đội xe tăng triển khai lực lượng áp sát địch. 7 giờ ngày 14.3, được sự chi viện của pháo binh, Trung đoàn 24 tổ chức tiến công vào Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 45 địch ở chân điểm cao 581; Tiểu đoàn 2 địch bị đánh thiệt hại nặng, Trung đoàn 45 và Liên đoàn 21 buộc phải co cụm ở Nông Trại. Ngày 15.3, địch đưa Trung đoàn 44 và sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 xuống Phước An. Tổng lực lượng địch trong khu vực Nông Trại - Phước An lên tới 5.600 quân. Sáng 16.3, Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10) phối hợp xe tăng tiến công tiêu diệt cụm quân địch ở Nông Trại, tàn quân địch rút về Phước An. Ngày 17.3, Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 tiến công làm chủ Phước An, địch co cụm về Chư Cúc, đồng thời sử dụng phi pháo bắn chặn, ném bom phá cầu trên đường 21, ngăn chặn ta truy kích. Ngày 18.3, được sự chi viện của pháo binh, Trung đoàn 28 phối hợp xe tăng thuộc Trung đoàn 273 tiến vào cổng chính căn cứ Chư Cúc (xem thêm Trận Nông Trại - Chư Cúc, 14-18.3.1975). Trước sức tiến công áp đảo của ta, 1.500 quân địch đầu hàng, số còn lại rút chạy về hướng đông bị lực lượng Trung đoàn 25 đón đánh, tiêu diệt và bắt 500 quân. Trong đêm 16 rạng 17.3, trung đoàn 66 và 149 từ hai hướng đột phá tiêu diệt phần lớn quân địch tại căn cứ Trung đoàn 53, làm chủ căn cứ, phát triển tiến công tiêu diệt cứ điểm B50 của địch. Toàn bộ lực lượng thuộc Sư đoàn 23 và Liên đoàn 21 bị tiêu diệt và tan rã, kế hoạch phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch bị thất bại hoàn toàn. Trận then chốt thứ 2 của chiến dịch thắng lợi, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.
Đợt 4 (18-24.3.1975), đánh trận then chốt thứ 3, truy kích tiêu diệt quân địch rút chạy trên đường 7. Sáng 15.3, toàn bộ lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên khoảng 15 nghìn quân, gồm cơ quan Quân đoàn 2 thuộc Quân khu 2, Sư đoàn không quân 6, Lữ đoàn KỊ binh 2 và 6 liên đoàn biệt động quân, 2 trung đoàn thiết giáp, 6 tiểu đoàn pháo rút chạy về hướng Phú Bổn. 21 giờ ngày 16.3, ta chính thức nhận được tin địch rút chạy khỏi Pleiku, 1 đoàn xe đã qua ngã ba Mĩ Trạch theo trục đường 7. Bộ tư lệnh Chiến dịch quyết tâm truy kích tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy; lực lượng gồm Sư đoàn 320 được tăng cường 1 tiều đoàn thiết giáp, Trung đoàn 95B và 1 cụm pháo binh chiến dịch. Sư đoàn 320 nhận lệnh hành quân cấp tốc ngay trong đêm 16.3, đến sáng 17.3, 1 đơn vị đã nhanh chóng băng rừng cắt đường 7 chặn đánh địch ở đông nam Cheo Reo 4 km. Ngày 18.3, Trung đoàn Bộ binh 64 cắt đường 7 ở đông Cheo Reo 10 km, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) cắt đoạn giữa Cheo Reo và Phú Thiện. Trừ một số địch rút trước về Củng Sơn, số còn lại khoảng 10 nghìn quân bị ta chặn lại ở Cheo Reo (xem thêm Trận Cheo Reo, 17-19.3.1975). Ngày 18.3, lực lượng ta diệt và bắt toàn bộ quân địch, giải phóng thị xã Phú Bổn và tiến xuống Củng Sơn. Ngày 17-19.3, ta giải phóng các quận Phú Nhơn, Mĩ Trạch, Phú Thiện; ngày 21.3, Trung đoàn 64 đuổi kịp và vây diệt địch ở Phú Túc; ngày 23.3, tiến đến Củng Sơn. Ngày 21.3, tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên kịp thời chặn địch ở đông Củng Sơn, địch bị ùn lại ở Củng Sơn trên 5 nghìn quân, hàng trăm xe vận tài, 40 xe tăng xe thiết giáp. Ngày 24.3, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) hiệp đồng với 2 tiểu đoàn tỉnh Phú Yên tiến công Củng Sơn, diệt và bắt gần hết quân địch. Đây là trận then chốt thứ 3 và là trận then chốt kết thúc Chiến dịch Tây Nguyên. Phát huy thắng lợi của chiến dịch, từ ngày 25.3 đến 3.4.1975, lực lượng vũ trang ta gồm các sư đoàn 320, 10,968 phát triển xuống duyên hải Trung Bộ, phối hợp với các đơn vị bạn và lực lượng địa phương giải phóng Quy Nhơn (31.3), Tuy Hòa (1.4), Nha Trang (2.4). Kết quả, ta tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 thuộc Quân khu 2 Quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 28 nghìn quân địch, thu và phá huỷ 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng pháo các loại; giải phóng 5 tinh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bốn, Quảng Đức và một số tỉnh Trung Bộ.
Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bàn so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch trên toàn miền Nam Việt Nam. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn, bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam Việt Nam. Những phát triển nghệ thuật quân sự trong chiên dịch là nghệ thuật bày mưu kế, lập thế trận, chọn mục tiêu (hướng) tiến công và phát triển tiến công.

Nguồn: Bách Khoa toàn thư Quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử Quân sự (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân - năm 2015)