Đại tướng Lê Trọng Tấn - Vị tướng xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Nhân vật liên quan
Hà Nội (TTXVN 26/3/2025) Trong cuộc đời binh nghiệp, với tài năng quân sự xuất chúng, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã chỉ huy và tham gia trực tiếp vào nhiều trận đánh lớn, từ Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Người ta gọi ông là “thiên tài quân sự”, là “dũng tướng”, là “tướng trận” bởi ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc và quyết liệt nhất, có khả năng xoay chuyển cục diện trận đánh. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét: “Lê Trọng Tấn đã trở thành một trong những nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của thời đại Hồ Chí Minh”. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1961, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1980 và Đại tướng năm 1984. Đại tướng Lê Trọng Tấn sinh ngày 1/10/1914, mất ngày 5/12/1986.
*Chiến thắng từ đồi Độc Lập năm 1954
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố, sinh ngày 1/10/1914 tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, TP Hà Nội) trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Ông là người có khả năng và tư duy thiên bẩm về chỉ huy đội quân vũ trang, nên ngay từ khi tham gia cách mạng đã được giao làm Ủy viên phụ trách quân sự trong Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Đông. Tại đây, ông đã dùng mưu kế, chỉ huy đội tự vệ chiếm đồn Đồng Quan, gây thanh thế cho cách mạng và lấy thóc để cứu đói dân. Chiếm đồn Đồng Quan chỉ với hai khẩu súng và diễn ra có vài phút mà không mất một viên đạn, một giọt máu đã hé lộ phẩm chất một tài năng quân sự lỗi lạc Lê Trọng Tấn.
Từ cuối năm 1945, Lê Trọng Tấn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và đảm nhiệm nhiều cương vị như: Trung đoàn phó, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn La, quyền Khu trưởng Khu 14, Phó Tư lệnh Liên khu 10, Trung đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Trung đoàn 209 chỉ huy nhiều trận đánh giành thắng lợi. Cuối năm 1950, khi Đại đoàn 312 - một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội được thành lập, Lê Trọng Tấn được bổ nhiệm làm Đại đoàn trưởng và là người duy nhất được đề bạt trực tiếp từ Trung đoàn trưởng lên Đại đoàn trưởng lúc tròn 36 tuổi, khẳng định tài năng quân sự và sự tín nhiệm của Trung ương Đảng và Quân đội đối với ông. Trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, ông đã chỉ đạo đơn vị làm nên nhiều chiến công vang dội trong các chiến dịch Hòa Bình (1951-1952), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953).
Đặc biệt, trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), ông được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh trận mở đầu, tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam - một trong những cụm cứ điểm kiên cố nhất của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Để giành thắng lợi, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn xác định cách đánh chiến thuật là: nắm chắc địch, hỏa lực chuẩn bị mạnh, mở cửa nhanh qua hệ thống vật cản, đột phá nhanh, mạnh vào chiều sâu phòng ngự của địch, đánh bại quân địch phản kích. Lần đầu tiên trên chiến trường Việt Nam, pháo binh địch bị chế áp, tê liệt; máy bay địch thì phải hoạt động trên độ cao 3.000m để tránh hỏa lực phòng không của ta, nên hiệu quả của không quân địch rất hạn chế, chỉ sau 5 giờ 30 phút chiến đấu (từ 17.00 - 22.30 ngày 13/3/1954), ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa.
Nắm chắc thời cơ tổng công kích, chiều ngày 7/5/1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 tiến công vào Sở Chỉ huy, bắt tướng De Castries cùng Bộ Tham mưu của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần cùng quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Tại lễ mừng công chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 mà đồng chí Lê Trọng Tấn là người chỉ huy cao nhất, vinh dự được nhận Cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, ngay chính Tướng De Castries cũng thú nhận: “Chúng tôi rất khâm phục đơn vị đầu tiên đánh Điện Biên Phủ và cũng chính là đơn vị bắt sống chúng tôi vào những ngày cuối cùng" (1).
*Đến Dinh Độc Lập năm 1975
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền, ông cùng các tướng lĩnh tài ba khác đã đề xuất, tham mưu với Quân ủy Trung ương nhiều chủ trương đúng đắn về xây dựng, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang ở chiến trường miền Nam; tham mưu, xây dựng kế hoạch tác chiến của nhiều chiến dịch lớn.
Năm 1964, Mỹ mở rộng chiến tranh trên quy mô lớn, ông được cử làm Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, là người có công lớn trong xây dựng Sư đoàn 9, sư đoàn chủ lực đầu tiên của Nam bộ với những trận thắng lớn ở Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, làm thất bại thảm hại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”; phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, “bám thắt lưng địch mà đánh” lan rộng khắp các chiến trường. Có thể nói, chiến trường nào khó khăn ác liệt nhất thì ông đều tham gia chỉ huy.
Đầu năm 1971, địch mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra Đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh lên Sê Pôn chặn đường tiếp tế của ta trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Chúng huy động tới 3 vạn quân, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”. Quân uỷ Trung ương đã mở chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giao cho ông làm Tư lệnh. Với sự nhạy cảm đặc biệt của một vị tướng trận, ông đã cùng với Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng sức mạnh tổng hợp dùng bộ binh, xe tăng kết hợp với pháo binh chọc thủng tuyến phòng ngự của địch, tiến công liên tục khiến kẻ địch từ thế chủ động sang thế bị động. Khi biết địch sắp rút lui, ông đã chỉ huy quân ta từ các mũi, các hướng dồn dập tiến công truy kích, đến ngày 18/3/1971 địch phải bỏ Bản Đông tháo chạy; cuộc hành quân Lam Sơn 719 của địch bị thất bại hoàn toàn.
Trong cuộc tiến công chiến lược quyết định tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta năm 1975, với thắng lợi lớn từ đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, chúng ta đã làm rúng động cả đồng bằng và đô thị, làm suy sụp tinh thần ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn. Nắm bắt được thời cơ lớn, Bộ Chính trị chỉ thị nhanh chóng đánh chiếm Huế, Đà Nẵng. Một lần nữa ông được chỉ định làm Tư lệnh của chiến dịch này. Ông đã chỉ huy quân tiến đánh và làm chủ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, đánh tan Quân đoàn 1, Quân khu 1 Việt Nam cộng hòa với 10 vạn quân và trang bị vũ khí hiện đại chỉ trong 3 ngày.
Sau Chiến dịch Đà Nẵng giành thắng lợi, bằng sự mẫn cảm của một vị tướng dạn dày kinh nghiêm trận mạc, ông đã đề nghị Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thành lập cánh quân Duyên hải, tức là cánh quân phía Đông, nhanh chóng tiến quân đánh địch và làm chủ các địa bàn chiến lược từ Nha Trang trở vào, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. Đề nghị này được Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tán thành. Ngay lập tức, cánh quân phía Đông được thành lập và đồng chí Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh.
Sáng ngày 7/4/1975, từ điểm xuất phát Đà Nẵng, cánh quân Duyên hải chia làm 5 khối thần tốc hành tiến theo quốc lộ 1 vào Nam. Với sức mạnh tiến công “một ngày bằng 20 năm”, chỉ trong một thời gian rất ngắn, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã chỉ huy cuộc hành quân thần tốc đưa một đạo quân gồm 4 vạn người với hàng nghìn xe pháo các loại, vượt qua chặng đường hàng nghìn km, xuyên qua 3 quân khu địch, vượt 50 con sông, 600 cầu, đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang, áp sát Sài Gòn, chuẩn bị tổng công kích. Tại đây, bằng tư duy phán đoán và phân tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G làm cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên, bắt sống Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và nội các, kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thực tiễn thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh: “Cánh quân phía Đông là sáng tạo của Bộ Tổng Tham mưu vì nó không có từ đầu trong kế hoạch giải phóng miền Nam” (2). Thành công ấy mang đậm dấu ấn tư duy chiến lược của đồng chí Lê Trọng Tấn.
Có thể nói, từ Đồng Quan đến Điện Biên Phủ rồi Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, biên giới Tây Nam, phía Bắc là những chặng đường lịch sử mà đại tướng Lê Trọng Tấn cùng nhiều tướng lĩnh tài ba khác của quân đội ta đồng hành cùng dân tộc trong cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc.
Có một điều đặc biệt, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Lê Trọng Tấn chỉ huy Đại đoàn 312, từ cánh quân phía Đông đánh vào trung tâm sở chỉ huy địch ở Mường Thanh, bắt sống tướng De Castries. Đại đoàn 312 do ông là đại đoàn trưởng là đại đoàn duy nhất không có trục trặc trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ trận mở màn đến khi kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ.
21 năm sau, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, cũng từ phía Đông, ông là tư lệnh hướng quan trọng này, bắt sống hai tướng ngụy, sau đó đánh, chiếm hoàn toàn dinh Độc Lập, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Với hai chiến công ấy, Lê Trọng Tấn xứng đáng hai lần anh hùng”.
Lịch sử cũng đã ghi lại rằng, trong một lần tiếp Đoàn quân sự Việt Nam, Chủ tịch Cu Ba Fidel Castro bắt tay Đại tướng Lê Trọng Tấn rồi hỏi mọi người xung quanh: “Đây có phải là tướng đánh hay nhất Việt Nam?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: “Đúng, đây là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam...”.
Đại tướng Lê Trọng Tấn từ trần ngày 5/12/1986. Đồng chí, đồng đội và bạn bè quốc tế khóc thương một vị tướng tài ba, đức độ. Báo Grama của Đảng cộng sản Cu Ba đăng trên trang nhất tin buồn và khẳng định: “Việt Nam mất một người anh hùng”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “Đại tướng Lê Trọng Tấn- người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.
Qua hơn 40 năm hoạt động cách mạng, lăn lộn trên khắp các chiến trường, trải qua nhiều cương vị chỉ huy khác nhau, Đại tướng Lê Trọng Tấn luôn thể hiện là một vị tướng tài ba, dày dạn, có kinh nghiệm phong phú và bản lĩnh vững vàng, đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam trên cả ba phương diện: chiến thuật, nghệ thuật chiến dịch và chiến lược. Những đóng góp to lớn của Đại tướng Lê Trọng Tấn đối với nền nghệ thuật quân sự Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở để chúng ta vận dụng và phát triển sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.
Diệp Ninh (tổng hợp)
(1) Đại tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tập, Nxb QĐND, H. 2007, tr. 290.
(2) Phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị Tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Dẫn theo bài viết: “Mãi mãi nhớ anh Tấn” của Trung tướng Lê Hữu Đức đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 34, tháng 12 /1976.




