Dân ca quan họ - sức lan tỏa nghìn đời

Hà Nội (TTXVN 23/2/2023) Ai đã từng nghe những câu quan họ trữ tình, da diết chắc hẳn sẽ chẳng thể nào quên hình ảnh tà áo tứ thân bay trong gió, với nón quai thao nghiêng nghiêng, cùng ánh mắt lúng liếng trao gửi của những anh hai, chị hai bên cổng làng, đầu con ngõ nhỏ hay bên bến nước, sân đình...

Những làn điệu dân ca mượt mà “vang, rền, nền, nẩy” đã đi vào lòng người, làm xao xuyến trái tim bao người yêu nhạc: “Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao, người ơi/ Nón quai thao nói gì người ơi...”.

Biểu diễn Dân ca Quan họ trên thuyền của các liền anh, liền chị tại hội Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2023. Ảnh: Thanh Thương-TTXVN

* Dân ca quan họ - sức lan tỏa nghìn đời

Dân ca quan họ là “món ăn tinh thần” độc đáo, là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian riêng có của trấn Kinh Bắc trù phú xưa. Trấn Kinh Bắc xưa là vùng đất nằm bên bờ Bắc sông Hồng, mà ngày nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, được ngăn cách bởi con sông Cầu (sông Như Nguyệt) thơ mộng, trong đó, bờ Nam thuộc tỉnh Bắc Ninh và bờ Bắc thuộc tỉnh Bắc Giang.

Từ xa xưa, người dân hai bên sông Cầu đã nổi tiếng với nhiều làng quan họ cổ cùng những làn điệu dân ca mượt mà, êm ả, “vang, rền, nền, nẩy”. Vì dân ca quan họ ra đời từ rất lâu nên có nhiều câu chuyện về thời điểm ra đời, có ý kiến cho là quan họ có từ thế kỷ XI, số khác lại cho là từ thế kỷ XVII. Mặc dù vậy nhưng tất cả các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay đều khẳng định giá trị to lớn của dân ca quan họ, loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa trấn Kinh Bắc xưa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, so với các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, như: hát xoan, hát ghẹo, hát chèo, hát ca trù, hát ví dặm, tuồng, cải lương... thì hát quan họ có thời gian tồn tại lâu đời nhất, với tuổi thọ khoảng nghìn năm.

Dân ca quan họ là hình thức hát giao duyên. Những liền anh trong trang phục truyền thống áo the, khăn xếp, và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người quan họ.

Theo “Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam”, hát quan họ có thể chia thành những dạng sau: hát quan họ ở hội, gọi là hát Hội; hát quan họ ở đám, gọi là hát Mừng; hát quan họ ở cửa đình, cửa đền, gọi là hát Thờ, hát Cầu; hát quan họ tại nhà giữa hai nhóm quan họ nam và nữ mời nhau, gọi là hát Canh. Trong đó, hát Hội và hát Canh là hai hình thức nổi bật, có giá trị văn hóa cao.

Hầu hết các bài hát quan họ đều theo thể lục bát hay lục bát biến thể, cũng có bài theo thể văn xuôi. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Với số lượng bài ca và làn điệu phong phú (hơn 500 bài ca và 213 làn điệu), được thể hiện bằng nghệ thuật ca hát đặc sắc và độc đáo, dân ca quan họ có thể nói đã đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc dân tộc. Cho đến tận ngày nay, nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị “chơi quan họ” ưa thích như: “Hừ La”, “La rằng”, “Tình tang”, “Ban kim lan”, “Cái ả”, “Cây gạo”…

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, hiện nay nhiều làng ở tỉnh Bắc Ninh vẫn duy trì được lối chơi văn hóa quan họ với hàng nghìn bài hát lời cổ mộc mạc, dân dã, mang nét đẹp riêng, vừa thiêng liêng, vừa cổ xưa mà rất Việt Nam. Khoảng 300 bài (giai điệu) quan họ đã được ký âm, gồm những đoạn thơ, bài thơ, chủ yếu là thể lục bát do các nghệ nhân quan họ truyền thống bàn giao cho các nhà sưu tầm lưu giữ.

Kho băng ghi âm quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh. Các bài quan họ được lưu giữ mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Hiện nay, dân ca quan họ đã phát triển và hoàn chỉnh cả về phương diện âm nhạc, lời ca và hình thức trình diễn. Các làn điệu quan họ ngày càng phong phú và có phong cách riêng.

* Vẻ đẹp tinh tế của dân ca quan họ

Các nhà nghiên cứu cho rằng, cái đẹp nhất của văn hóa quan họ chính là ở sự tinh tế, ý nhị trong cách ứng xử, trong tâm tư gửi gắm ở mỗi câu ca. Dù là nam hay là nữ, khi cất tiếng hát, người quan họ luôn nhún nhường bằng những câu thưa gửi: “Thưa chị hai, chị ba, biết thì ca trước để anh em chúng em cất bước theo sau”. Sự tinh tế, ý nhị của dân ca quan họ còn thể hiện từ lời chào đón khi khách đến chơi nhà: “Đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ Trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người xơi mỗi chén cho em vừa lòng”; hay “Giầu này trong tráp mở ra/ Giấu cha giấu mẹ đem ra mời chàng”.

Nói về khoảnh khắc gặp mặt, người quan họ cũng mượn những hình ảnh tao nhã, đầy ý nghĩa: “Hôm nay sum họp trúc mai/ Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm”. Ngay cả về nghĩa tình, người quan họ cũng vô cùng sâu sắc khi hát rằng: “Nghĩa người em để trong cơi/ Nắp vàng đậy lại để nơi giường nằm”. Đến khi “Giã bạn”, những câu ca quan họ cũng đầy bịn rịn, lưu luyến, như níu chân kẻ ở, người đi: “Người về em vẫn khóc thầm/ Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa”. Có thể thấy, sự sâu sắc, ý nhị trong lời ca, trong sinh hoạt văn hóa quan họ vô cùng tinh tế mà vẫn gần gũi, ấm áp, tràn đầy tình cảm chứ không cách xa, khách sáo.

Theo quan niệm của người quan họ, đã chơi quan họ thì phải "tinh mới tường", tức là phải hiểu, phải chơi có lề có lối, thanh cao và phải hát bằng cả trái tim, mới giữ gìn được bản sắc truyền thống. Người quan họ luôn hát với những niêm luật, quy định khắt khe và không bao giờ được dễ dãi. Các làn điệu quan họ đều là lời cổ nên để hát thuần thục, hiểu được tận tường văn hóa, phong tục, tập quán trong sinh hoạt của người quan họ cần phải trải qua một quá trình dài rèn rũa, luyện tập. Để biết chơi quan họ thì cần có một quá trình, người mới biết hát phải tập cách lấy hơi, kỹ thuật luyến láy, ngân nga rồi khi hát được nhuyễn mới tính đến “vang, rền, nền, nảy”. Người chơi phải hiểu các điệu hừ la, la rằng, la bạn... tập hát cả ba giọng: giọng vặt, giọng kết, giọng giã, hát lề lối, hát đối, hát canh…  Cũng bởi thế, người quan họ mới có câu là: “Xưa kia nam nữ trẻ già/ Ai mà ca được ắt là hiển vinh/ Ngẫm xem các giọng cho tinh/ Ai mà ca được hiển vinh muôn đời”.

Dân ca quan họ không chỉ độc đáo, tinh tế trong sự hòa quyện tuyệt diệu giữa giai điệu và lời ca, mà còn đẹp cả trong trang phục truyền thống của các liền anh, liền chị. Trang phục quan họ không chỉ thể hiện nghệ thuật thẩm mỹ, là hình thức bên ngoài mà nó còn bao hàm cả chiều sâu văn hóa của người quan họ. Liền anh thường mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Các liền anh thường mặc bên trong một hoặc hai áo cánh, bên ngoài là hai áo dài. Áo dài ngoài cùng thường màu đen với chất liệu lương, the, hoặc bằng đoạn mầu đen đối với người khá giả. Cũng có người mặc áo dài phủ ngoài may hai lớp được gọi là áo kép, với lớp ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lớp trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh… Đi cùng với áo dài là quần dài trắng được may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, ống rộng, có thắt lưng nhỏ để thắt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Ngoài quần, áo, khăn xếp, dép, trang phục của các liền anh còn có thêm nón chóp lá thường hoặc lá dứa, có quai lụa màu mỡ gà nhưng ngày nay dường như đã được thay thế bằng ô đen.

Không thua kém sự cầu kỳ của giới liền anh, trang phục của các liền chị là "áo mớ ba mớ bảy," nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy), với màu sắc đa dạng, rực rỡ. Liền chị mặc váy sồi, váy lụa màu đen. Cũng có người mặc váy kép với lớp váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn và lớp váy ngoài bằng the, lụa. Dép của các liền chị được làm bằng da trâu, mũi dép uốn cong như một lá chắn nhỏ che dấu đầu các ngón chân, trên mặt dép có một vòng tròn bằng da để xỏ ngón chân thứ hai giữ cho dép không tuột rơi khi bước đi. Ngoài áo, váy, thắt lưng, dép, trên đầu các liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao và thắt lưng đeo dây xà tích.

Có thể nói, dân ca quan họ tuy không ồn ã, náo nhiệt, nhưng lại mang nét đẹp văn hóa cổ xưa, mượt mà, uyển chuyển, được truyền từ đời này qua đời khác với những giá trị tinh thần nguyên vẹn.

* “Làng quan họ quê tôi, tháng giêng mùa hát hội…”

Dân ca Quan họ Bắc Ninh được các liền anh, liền chị biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Thanh Thương-TTXVN

Hằng năm, cứ mỗi độ Xuân về, người dân các làng quan họ gốc thuộc xứ Kinh Bắc (bao gồm cả tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo đã gắn liền với quan họ tự bao đời. Ngày hội Xuân chính là dịp để các liền anh, liền chị quan họ mời bạn đến làng mình, tham gia tế lễ, thăm hỏi gia đình và sinh hoạt ca hát.

Từ xa xưa, các làng quan họ ở phía Bắc sông Cầu (tỉnh Bắc Giang) đã có tục “kết chạ” (kết bạn) với các làng quan họ thuộc tỉnh Bắc Ninh (phía Nam sông Cầu). Điển hình như: làng Thổ Hà kết chạ với làng Diềm; làng Trung Đồng kết chạ với Thượng Đồng và Hạ Đồng; làng Nội Ninh kết chạ với làng Hàn, Diềm; làng Mai Vũ kết chạ với Chấp Bút; làng Hữu Nghi kết chạ với Cao Lôi; làng Tiên Lát kết chạ với Bịu Sim… Chính nhờ mối kết chạ này, các nghệ nhân quan họ từ hai phía có sự gắn bó, giao lưu và sáng tạo trong sinh hoạt văn hoá. Dân ca ấy đã từ làng bước ra thế giới để trở thành di sản của nhân loại.

Và trong ngày hội Xuân của một làng quan họ, các liền anh, liền chị từ các làng, chủ yếu là các làng kết chạ, nô nức rủ nhau đến trảy hội và ca hát. Từng cặp, nhóm quan họ kết chạ đứng hát với nhau ngay ở ngoài trời nơi trung tâm hội, như sườn đồi (hội Lim), hoặc sân đình, sân chùa và có khi tỏa ra hát ở mặt đê, ven sông Cầu.

Lễ hội tiêu biểu nhất của người quan họ là lễ hội vùng Lim (tỉnh Bắc Ninh). Không chỉ có phần lễ trang nghiêm, phần hội với nhiều trò chơi dân gian độc đáo, hội Lim còn có không gian sinh hoạt văn hóa quan họ đặc sắc. Ít có lễ hội nào mà không gian diễn xướng quan họ lại phong phú như ở hội Lim. Các liền anh, liền chị có thể hát trên sân khấu, hát dưới thuyền, hát cửa đình, cửa chùa đến hát canh trong nhà chứa quan họ hay tại gia đình nghệ nhân... Cũng vì thế mà hội Lim luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn đối với đông đảo người dân và du khách thập phương. Mặc dù ngày 13 tháng Giêng (âm lịch) mới là chính hội, nhưng từ sớm ngày 12 tháng Giêng (âm lịch), trên đồi Lim - trung tâm lễ hội - đã tưng bừng với các lán hát quan họ và các trò chơi dân gian. Đến hội Lim, khách du Xuân không chỉ được nghe quan họ mà còn được xem nhiều hoạt động văn hóa truyền thống khác của địa phương, tham dự các trò chơi truyền thống như: đánh đu, chọi gà, chọi chim, đấu vật, tổ tôm điếm, thi cờ người... Tất cả tạo nên một không gian văn hóa riêng có của vùng quê Bắc Ninh-Kinh Bắc.

Với những giá trị độc đáo, ngày 30/9/2009, dân ca quan họ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là niềm tự hào và là động lực to lớn để dân ca quan họ tiếp tục phát triển vượt qua ranh giới quốc gia và lan toả rộng rãi.

* Bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Trong nhiều năm qua, dân ca quan họ đã được các thôn, làng bảo tồn và phát triển. Đặc biệt, dân ca quan họ được người dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, trở thành bản sắc độc đáo của địa phương và lan tỏa trở thành một không gian văn hóa đặc thù. Các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống gắn với sinh hoạt văn hóa quan họ cũng được Nhà nước xếp hạng bảo vệ.

Một buổi sinh hoạt Dân ca Quan họ Bắc Ninh của Câu lạc bộ Quan họ măng non xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Thanh Thương-TTXVN

Bên cạnh đó, Trung tâm Văn hóa quan họ truyền thống khu vực Bắc Giang và Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy dân ca quan họ ở tỉnh Bắc Ninh, cùng với Nhà hát Dân ca quan họ Bắc Ninh cũng đang tiếp tục giới thiệu dân ca quan họ lan tỏa khắp mọi miền đất nước và ra quốc tế, đồng thời làm nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, gìn giữ và phát triển dân ca quan họ. Các câu lạc bộ, các đội văn nghệ quan họ đã thu hút hàng trăm nghệ nhân, các liền anh, liền chị tham gia vào công việc sưu tầm, truyền dạy cho lớp trẻ, đồng thời trực tiếp tham gia vào việc giới thiệu dân ca quan họ với du khách trong và ngoài nước.

Từ chỗ chỉ có 49 làng quan họ gốc và 34 câu lạc bộ, đến nay tỉnh Bắc Ninh đã phát triển lên hơn 360 làng quan họ thực hành, hơn 380 câu lạc bộ với trên một vạn hội viên tham gia, hàng nghìn người có khả năng truyền dạy. Đặc biệt, Bắc Ninh có hơn 140 câu lạc bộ ở các tỉnh và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, tỉnh Bắc Ninh còn tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá quan họ với nhiều hình thức phong phú cả trong và ngoài nước. Bắc Ninh đã triển khai xây dựng biểu trưng văn hóa Quan họ, sổ tay du lịch, tờ gấp, tổ chức các chương trình giao lưu, kết hợp dân ca quan họ với âm nhạc đương đại; xây dựng chuyên trang, chuyên mục về văn hóa quan họ trên Website Thành uỷ, Cổng thông tin điện tử; Đài Phát thanh thành phố, phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh tổ chức sản xuất và phát sóng định kỳ hàng quý chương trình giao lưu Canh hát quan họ đêm Rằm...

Đặc biệt, Bắc Ninh là tỉnh đi đầu cả nước trong việc xây dựng cơ chế chính sách tôn vinh đãi ngộ đối với nghệ nhân di sản văn hóa, qua đó, góp phần tạo động lực cho các nghệ nhân tiếp tục nuôi dưỡng đam mê, nhiệt huyết, cống hiến tài năng cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tỉnh Bắc Ninh đã dành hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách để đầu tư hỗ trợ xây dựng các thiết chế văn hóa, các trang thiết bị liên quan trực tiếp đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, trong đó có phục dựng các Nhà chứa Quan họ tại các làng Quan họ gốc tiêu biểu; đầu tư xây dựng sân khấu thực cảnh cho lễ hội vùng Lim; xây dựng Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh tại khu vực Thủy Tổ Quan họ…

Tỉnh Bắc Giang cũng có nhiều chương trình bảo tồn như: nghiên cứu, sưu tầm các làn điệu quan họ cổ; mở lớp truyền dạy, hỗ trợ thành lập các câu lạc bộ; hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa… Nhiều nghệ nhân cao tuổi vẫn say mê ca hát và tự nguyện truyền dạy vốn văn hóa dân tộc cho thế hệ sau. Điển hình như: làng Trung Đồng, xã Vân Trung; làng Đình Cả, xã Quảng Minh hay Tam Tầng, xã Quang Châu (huyện Việt Yên)... có câu lạc bộ quan họ toàn những nghệ nhân 70 tuổi trở lên. Các cụ biết hát quan họ từ khi “Răng non trắng tựa như ngà - Đến nay trơ lợi vẫn ca rõ nhời” và vẫn thuộc cả trăm bài quan họ cổ, “biết đủ lối, thuộc đủ câu”.

Không chỉ những làng quan họ gốc, phong trào hát quan họ còn phát triển rộng khắp hầu hết các thôn, làng trong toàn tỉnh Bắc Giang. Người dân hát ở nhiều nơi như hội làng, hội diễn, đám cưới, mừng thọ, lễ kỷ niệm… Vào dịp hè hằng năm, Trại hè Bagico dành cho thiếu nhi, với chương trình “Em yêu làn điệu dân ca”, đã thu hút hàng trăm thiếu nhi tham gia. Chương trình này đã phát hiện nhiều em nhỏ mới 5-6 tuổi nhưng đã thành thạo những làn điệu dân ca quan họ cổ như: “Nam nhi”, “Cái hời cái ả”, “Xuôi ngược sông Cầu”, “Nguyệt gác mái đình”, “Đôi bên bác mẹ cùng già”, “Lên núi Ba Vì”…

Bên cạnh đó, nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ vinh dự được mời tham gia biểu diễn tại các nước châu Âu nhằm giới thiệu, quảng bá di sản quan họ tới bạn bè thế giới. Năm 2012, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập UNESCO tổ chức tại Paris (Pháp), cặp hát Phú Hiệp - Đăng Nam (làng Thổ Hà) đã được mời biểu diễn đại diện cho đoàn Việt Nam, trong phần trình diễn văn hóa phi vật thể của hơn 160 quốc gia.

Với những giá trị đã được cả thế giới công nhận, di sản văn hóa quan họ thực sự là nguồn tài nguyên hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Sức sống bền bỉ, trường tồn của những canh quan họ, của những câu hát trao gửi vẫn thu hút và tạo ấn tượng bền sâu với du khách, góp phần quảng bá, đưa hình ảnh Việt Nam ra với thế giới và bạn bè năm châu./.

Hoàng Yến (tổng hợp)