Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di: “Người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc”

    Nhân vật liên quan

    • Giáo sư, Bác sĩHồ Đắc Di

Hà Nội (TTXVN 11/5/2025) Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di là một trí thức tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX, di sản mà ông để lại không chỉ trong y khoa, mà cả ở cách đào tạo các thế hệ thầy thuốc.

Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di

Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di sinh ngày 11/5/1900, trong một dòng họ danh gia vọng tộc ở làng An Truyền (còn gọi là làng Chuồn), thuộc tổng Vĩ Dạ, nay thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Năm 1918, ông được gia đình cho du học tại Pháp và trở thành người Việt Nam đầu tiên đỗ bằng thạc sĩ Y khoa Pháp; sau đó đỗ bác sĩ nội trú và làm phẫu thuật ở Bệnh viện Tenon. Ông đã chứng tỏ khả năng của mình khi sáng tạo phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày-tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày- tá tràng gây ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn được mang tên ông và được nhiều sách y học nhắc đến và thừa nhận giá trị trong hàng chục năm sau.

Sau 13 năm học tập và làm việc ở Pháp, năm 1931, ông trở về nước và giảng dạy tại trường Đại học Y-Dược thuộc Đại học Đông Dương. Và phải nhiều lần đấu tranh ông mới được chính quyền thực dân Pháp cho phép đứng mổ. Thực tài của ông dần được thừa nhận. Tính đến năm 1945, ông đã công bố 37 công trình nghiên cứu trên các tạp chí y học Pháp ở Paris và Viễn Đông. Năm 1943, Hội đồng Giáo sư Trường đại học Y Hà Nội, gồm toàn các giáo sư người Pháp và Toàn quyền Đông Dương đã công nhận chức danh Giáo sư cho ông. Ông cũng là người Việt Nam duy nhất được Pháp thừa nhận danh hiệu này trong gần 80 năm đô hộ nước ta.

Năm 1945, khi được biết phong trào Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, bác sĩ Hồ Đắc Di đã thầm tự nhủ: Chính nghĩa đây rồi! Độc lập, Tự do đây rồi!.

Cách mạng Tháng Tám thành công, bác sĩ Hồ Đắc Di được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao nhiều trọng trách: Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội, Tổng Thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Vụ Đại học và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy. Giáo sư nhiệt thành nhận nhiệm vụ mới.

Là Hiệu trưởng của Trường Đại học Y kháng chiến khai, ông cùng các đồng nghiệp và học trò nếm mật nằm gai, xây dựng trường Đại học Y ngày càng lớn mạnh.

Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng và Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch - những tên tuổi lớn của y học Việt Nam sau ngày Hà Nội giải phóng. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát

Với tầm nhìn xa trông rộng, ông đã vạch ra một con đường mới cho ngành y ngay từ những ngày đầu. Ông đã chỉ rõ: Trường đại học là một cộng đồng trong đó thầy và trò cùng có chung một niềm khát khao học hỏi qua tự do trao đổi ý kiến để đạt đến chân lý, để thấu hiểu một cách đúng đắn giá trị của sức mạnh trí tuệ. Đó chính là bí quyết của tinh thần đại học.

Ồng cũng sớm cho rằng trường đại học phải “vừa là trung tâm giảng dạy, vừa là trung tâm nghiên cứu”. Ông viết: “Giảng dạy và nghiên cứu là hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm chỉ là sảnh chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm”. Về sau, ông nói rõ thêm, trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang hình thành khoa học.

Trong vai trò một thầy giáo, Giáo sư Hồ Đắc Di cho rằng “người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc”.

Một trong những học trò xuất sắc của Giáo sư Hồ Đắc Di chính là Giáo sư Tôn Thất Tùng. Khi đã trở thành viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới, Giáo sư Tôn Thất Tùng vẫn nhớ: Cụ Hồ Đắc Di thường dạy tôi: Khoa học là sự nổi dậy của tư duy. Đã làm khoa học là phải luôn luôn đặt lại vấn đề. Nếu không, thì chẳng còn gì để tìm kiếm nữa! Và cũng chẳng có gì để phát minh!

Còn Giáo sư Phạm Khuê lại trân trọng viết về người thầy của mình: Sự nghiệp của cụ Di là sự nghiệp khoa học. Cuộc sống của cụ Di là cuộc sống của một triết nhân.

Giáo sư Hồ Đắc Di qua đời ngày 25/6/1984 tại Hà Nội. Để tưởng nhớ và tôn vinh ông, Hà Nội đặt tên ông cho một con phố: phố Hồ Đắc Di, nối liền với phố Tôn Thất Tùng, phố Phạm Ngọc Thạch và phố Đặng Văn Ngữ - là tên tuổi những người thầy thuốc tài đức vẹn toàn của nền y học Việt Nam hiện đại. Ông cũng được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, năm 1996 cho các công trình: Sinh học và bệnh học đại cương; Quan điểm đường lối, phương pháp luận đào tạo cán bộ y tế Việt Nam (sau 1945)./.

Phương Phương