Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn: Trọn đời vì nền Giáo dục và Khoa học xã hội Việt Nam
Nhân vật liên quan
Hà Nội (TTXVN 30/7/2025) Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn là một tên tuổi lớn của nền Giáo dục và Khoa học xã hội Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là hình ảnh mẫu mực của một tri thức cách mạng, nhà khoa học uyên bác, một học giả uyên thâm với kiến thức vừa bao quát, vừa chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực. Khi là nhà cách mạng, ông sắc sảo, nhạy bén, kiên trung với nhiệm vụ được giao phó; khi là nhà khoa học uyên bác, ông có nhiều đóng góp đa dạng trên các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học xã hội và nhân văn.
* Nhà hoạt động cách mạng trung kiên
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn sinh ngày 1/8/1905 tại Nghệ An. Tuổi thiếu niên và thanh niên của ông được chứng kiến những phong trào yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp đô hộ. Chính hoàn cảnh đó đã tạo nên người thanh niên Nguyễn Khánh Toàn tràn đầy lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Ngày từ năm 1924, 1925, khi còn đang là sinh viên Văn khoa tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (Hà Nội), ông đã viết báo đả kích chế độ thực dân cũng như tham gia tích cực phong trào yêu nước đòi thực dân Pháp thả Phan Bội Châu. Mặc dù không được tốt nghiệp, không được bổ nhiệm dạy học vì có những hành động chống Pháp, nhưng những điều đó lại tiếp tục nuôi dưỡng trong ông ý chí cách mạng. Ông vào Sài Gòn viết báo, sáng lập tờ “Le Nhà quê” có nội dung chống Pháp nên bị chúng bắt giam nửa năm. Năm 1927, ông bị đưa ra xử với một năm tù án treo. Sau đó, ông được mời làm chủ bút tờ “L’Annam”, một tờ báo nổi tiếng khắp Bắc, Trung, Nam công khai tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Ông chủ trương cho đăng trên báo Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăng-ghen và Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị Vecxay. Vì vậy, ông lại bị chính quyền thực dân bắt và kết án hai năm tù treo.
Sau khi được trả tự do vào năm 1928, nhờ sự giúp đỡ của bè bạn, ông sang Pháp học và tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước. Là một trí thức trẻ, thông minh, giàu nhiệt huyết, ông được Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu sang học ở trường Đảng Liên Xô. Năm 1930, Quốc tế Cộng sản giới thiệu ông làm nghiên cứu sinh sử học với đề tài "Chiến tranh nông dân ở Đông Dương vào thế kỷ 18 - Khởi nghĩa Tây Sơn" và nhận học vị Tiến sĩ tại Khoa Sử, Đại học Phương Đông (Liên Xô). Do có những đóng góp tích cực, ông đã được Quốc tế Cộng sản giao trọng trách là Phó Ban Đông Dương.
Có thể nói, con đường hoạt động cách mạng của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn vừa gắn với môi trường đấu tranh của người trí thức, lại vừa được rèn luyện học tập một cách chính quy và hệ thống những kiến thức chính trị, xã hội ở những trường đại học tiêu biểu nhất. Cũng vì thế mà sự hiểu biết của Giáo sư rất rộng và sâu sắc, trên nhiều lĩnh vực của các ngành khoa học xã hội nhân văn. Giáo sư Toàn sử dụng thành thạo nhiều thứ tiếng: Pháp, Nga, Trung Quốc.
Trong thời gian ở Liên Xô, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã tham gia những công tác của Quốc tế Cộng sản và Công hội đỏ. Năm 1931, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn gia nhập Đảng Cộng sản. Người chiến sĩ cộng sản được rèn luyện trong môi trường giao lưu quốc tế rộng lớn, nên tinh thần quốc tế vô sản càng sớm được khẳng định vững chắc. Dù ở Liên Xô hay sau này về hoạt động ở Trung Quốc, ở đâu cũng biểu hiện sự kết hợp sâu sắc giữa tinh thần dân tộc và quốc tế vô sản.
Cũng trong thời gian này, ông được gần gũi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Người bồi dưỡng, dìu dắt. Nhờ vậy, ông trở thành một trong nhưng học trò ưu tú của Người cũng như sau này ông là một trong những người hiểu biết sâu sắc nhất, nghiên cứu thành công và có nhiều bài viết nhất về cuộc đời hoạt động cách mạng và con người Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1939, theo sự phân công của Đảng, ông sang làm việc và hoạt động với nhóm Cộng sản Việt Nam ở Diên An, Trung Quốc. Ông là Giáo sư dạy Khoa Lịch sử cách mạng thế giới và khoa tiếng Nga với bí danh Hoàng Chính Quang.
Năm 1945, ông về nước và được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ giảng dạy triết học và chủ nghĩa Mác-Lênin tại các lớp huấn luyện cán bộ cốt cán của các tỉnh miền Bắc. Tại những lớp học này, "học sinh ra về lan truyền đi khắp nơi những lời khâm phục về sự uyên bác và sắc sảo của một Giáo sư đỏ, một trí thức lỗi lạc của Đảng đã đem lại cho anh chị em những kiến thức sơ đẳng và khái quát về học thuyết Mác-Lênin, tăng thêm niềm tin tưởng của anh chị em vào con đường cách mạng của Đảng và Bác Hồ".
* Kiến trúc sư trong giai đoạn đầu của nền giáo dục cách mạng
Với tầm nhìn xa trông rộng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng lại nền giáo dục Việt Nam. 95% dân số bị mù chữ, mỗi huyện một trường cấp I, vài tỉnh chung nhau một trường cấp II, cả nước có vài trường cấp III toàn cấp, cả Đông Dương chung nhau một trường đại học gồm vài ba trăm sinh viên, phần lớn là ngành Luật và ngành Y. Thực trạng giáo dục của nước ta lúc đó quả là một bài toán cực kỳ khó khăn cho những ai có trách nhiệm đưa nền giáo dục cách mạng từ một xuất phát điểm như vậy tiến lên nhanh, phục vụ đắc lực cho kháng chiến và kiến quốc. Người được giao đảm trách nhiệm vụ nặng nề ấy không ai khác chính là Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn.
Tháng 11/1946, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Cùng với Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, ông đã có những cống hiến to lớn cho ngành Giáo dục trong thời kỳ xây dựng nền giáo dục nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với tinh thần trách nhiệm cao, ông cùng các đồng nghiệp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ "diệt giặc dốt". Tên tuổi của ông còn gắn liền với công cuộc cải cách trong ngành giáo dục. Năm 1950, trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã đề xướng và thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất. Với ba phương châm đúng đắn: “Dân tộc, khoa học, đại chúng”, cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành theo hướng: Học đi đôi với hành; nâng cao trình độ văn hóa kết hợp với lao động sản xuất; đẩy mạnh phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số; tất cả các môn học từ bậc tiểu học đến đại học đều giảng dạy và học bằng tiếng Việt, nhờ vậy đạt được những kết quả to lớn.
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đòi hỏi phải đưa nền giáo dục nước nhà lên một trình độ phát triển mới, cả về nội dung và tổ chức, kịp thời đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Vì vậy, năm 1960, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn tổ chức và thực hiện thành công cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai. Nhờ vậy đến năm 1958, nạn mù chữ đã căn bản được xoá ở các vùng đồng bằng miền Bắc.
Chính vì vậy, đánh giá về công lao của Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn nhận xét: "Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn là linh hồn của cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) và cải cách giáo dục lần thứ hai (1960)…, kiến trúc sư những thắng lợi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp giáo dục cách mạng ở nước ta".
* “Ngọn cờ” của ngành Khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn luôn được bạn bè, đồng nghiệp trong nước cũng như quốc tế đánh giá là một trong những ngọn cờ của khoa học xã hội và là người đặt nền móng đầu tiên cho ngành Khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam. Năm 1965, trên cương vị là Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), ông đã tập trung vào việc lãnh đạo ngành khoa học xã hội cả về tổ chức và học thuật.
Bằng uy tín và khả năng to lớn của bản thân, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã tập hợp được nhiều nhà khoa học hàng đầu của cả nước như: Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Phạm Huy Thông, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huy, Vũ Khiêu, Văn Tân ... về nghiên cứu và làm việc, cùng nhau hợp sức xây dựng nên một nền khoa học xã hội Việt Nam lớn mạnh như ngày nay. Nhiều viện nghiên cứu cũ được sắp xếp lại: Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Kinh tế học; hàng loạt viện nghiên cứu mới lần lượt ra đời: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Xã hội học... đã góp phần đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, đề ra và tích cực thực hiện nhiều đề tài khoa học phục vụ nhiệm vụ cách mạng do Đảng và Nhà nước giao phó.
Năm 1969, ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, với tư cách là Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, trong Dự thảo phương hướng nghiên cứu khoa học gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã đề nghị xúc tiến nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh và xem nó như là cơ sở cho sự phát triển lý luận Mác - Lênin và sự sáng tạo trong đường lối cách mạng Việt Nam.
Là một nhà bác học uyên thâm trên nhiều lĩnh vực khoa học Xã hội và Nhân văn, trong sự nghiệp khoa học vì cách mạng, vì nhân dân của mình, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã để lại hàng trăm tác phẩm khoa học, chuyên luận, bài nghiên cứu… có giá trị thấm đượm tính Đảng, tính khoa học và mang đậm dấu ấn của một tư duy Mácxít sâu sắc: Giáo dục dân chủ mới (1947); Đại cương Văn học sử Việt Nam (1954); Vài nhận xét về thời kỳ từ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long (1954); Vấn đề dân tộc trong Cách mạng vô sản (1960-1962); Chung quanh một số vấn đề văn học và giáo dục (1972); Cách mạng và khoa học xã hội (1978); Một số vấn đề của khoa học nhân văn (1992)…
Ghi nhận những đóng góp của ông cho sự nghiệp nghiên cứu và phát triển khoa học Việt Nam, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1984); truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996) cũng như nhiều Huân chương cao quý khác. Năm 1975, ông được nhận danh hiệu Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức. Năm 1976, ông được vinh dự bầu chọn là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn mất ngày 9/12/1993. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn là một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ, lòng yêu nước và nhân cách cao quý. Ông không chỉ là một nhà giáo dục, nhà khoa học mà còn là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, mà lẽ sống, cuộc đời hoạt động cách mạng và khoa học luôn hướng tới lý tưởng vì mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Những tư tưởng và công trình của ông đến hôm nay vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho nền khoa học và giáo dục Việt Nam./.
Diệp Ninh (tổng hợp)



