Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch: cuộc đời và những cống hiến mang tầm chiến lược
Nhân vật liên quan
Hà Nội (TTXVN 7/1/2026) Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch (1921–1998) là một trong những nhà lãnh đạo, nhà ngoại giao kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI, Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí đã để lại dấu ấn sâu đậm trong những giai đoạn bước ngoặt của lịch sử dân tộc. Hơn 60 năm hoạt động cách mạng và hơn 40 năm gắn bó với ngành đối ngoại, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là biểu tượng của tinh thần tự học, tư duy chiến lược đổi mới và lòng yêu nước cháy bỏng.
1. Bản lĩnh cách mạng qua giông tố lao tù và những trọng trách thời kỳ đầu
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Cơ Thạch (tên khai sinh là Phạm Văn Cương) là một tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên trung của thế hệ chiến sĩ cộng sản tiền bối.
Sinh ra tại vùng đất giàu truyền thống yêu nước xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Liên Minh, tỉnh Ninh Bình), đồng chí đã sớm giác ngộ lý tưởng và dấn thân vào phong trào Thanh niên dân chủ rồi Thanh niên phản đế từ năm 16 tuổi (1937). Bước ngoặt thử thách lớn lao đến vào năm 1940, khi đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp bắt giữ và kết án 5 năm tù giam. Qua các địa ngục trần gian từ Nam Định, Sơn La đến Hòa Bình, ý chí sắt đá của người chiến sĩ trẻ không những không bị khuất phục mà càng thêm tôi luyện. Chính trong hoàn cảnh nghiệt ngã của nhà tù Sơn La vào năm 1943, đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới vừa tròn 22 tuổi.
Suốt giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954), đồng chí liên tục được tin tưởng giao phó nhiều trọng trách nặng nề nhờ năng lực tổ chức toàn diện trên cả mặt trận quân sự lẫn chính trị. Đồng chí từng đảm nhiệm cương vị Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, làm Thư ký thân cận cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trực tiếp tham mưu cho các quyết sách quân sự quan trọng ở cấp chiến lược. Nhằm đáp ứng yêu cầu củng cố hậu phương, đồng chí được điều động về địa phương giữ chức Quyền Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh Hà Đông, và đến đầu năm 1951 tiếp tục được cử làm Ủy viên Đảng đoàn kiêm Ủy viên Ủy ban Hành chính kháng chiến Liên khu III. Những trải nghiệm thực tiễn phong phú từ khói lửa chiến trường và công tác xây dựng phong trào cơ sở đã tạo nên một thế giới quan sắc bén, làm bệ phóng vững chắc cho đồng chí khi bước sang một mặt trận mới: Mặt trận ngoại giao.
2. Nhà chiến lược xuất sắc trên mặt trận đối ngoại và những dấu ấn lịch sử
Năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch chính thức chuyển sang ngành Ngoại giao với cương vị Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao. Đến năm 1956, đồng chí được bổ nhiệm làm Tổng Lãnh sự đầu tiên của Việt Nam tại Ấn Độ, đặt những viên gạch nền móng kiên cố cho mối quan hệ hữu nghị sâu sắc giữa hai quốc gia và thiết lập được mối thâm giao đặc biệt với cố Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru. Trở về nước năm 1960, đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và liên tục gắn bó với vị trí này suốt hai thập kỷ (gồm cả thời gian làm Quốc vụ khanh hàm Bộ trưởng). Đây cũng là giai đoạn đồng chí thể hiện tầm nhìn chiến lược vĩ đại, đóng góp trực tiếp vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Với tư cách là người đứng đầu cơ quan tham mưu chiến lược CP50, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch là kiến trúc sư trưởng đứng sau việc chuẩn bị các phương án đấu tranh lý luận, pháp lý cho cục diện “vừa đánh, vừa đàm” tại Hội nghị Paris. Đồng chí là một trong những tác giả chủ chốt tham gia dự thảo "Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam". Khi cuộc đàm phán bước vào giai đoạn then chốt về bốn Nghị định thư đi kèm, đồng chí trực tiếp đối đầu với Đại sứ William Sullivan (Trợ lý của Henry Kissinger) trên bàn nghị sự chuyên gia.
Sự kiên định, sắc sảo và nghệ thuật thương lượng bậc thầy của đồng chí đã khiến Sullivan phải thốt lên đầy nể phục: "Trong cuộc đời làm ngoại giao của tôi, đàm phán với ông Nguyễn Cơ Thạch là khó nhất". Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, đồng chí tiếp tục chỉ đạo bộ máy đối ngoại phối hợp với các cơ quan chiến lược dự báo chính xác rằng: Mỹ ít có khả năng quay trở lại can thiệp quân sự nếu ta đánh lớn ở miền Nam. Nhận định mang tính quyết định này đã giúp Bộ Chính trị củng cố hạ quyết tâm chiến lược, mở đường cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối.
Bước sang thập niên 1980, trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã chèo lái con thuyền ngoại giao Việt Nam vượt qua giai đoạn giông bão khủng khiếp nhất khi đất nước bị bao vây cấm vận, xung đột biên giới phức tạp và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô - Đông Âu suy thoái rồi sụp đổ.
Đồng chí chính là người khởi xướng và thúc đẩy Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13 (ngày 20/5/1988) - một bước ngoặt lịch sử chuyển tư duy đối ngoại từ đối đầu sang đối thoại, đề ra phương châm “thêm bạn, bớt thù”, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Tầm nhìn này không chỉ giúp Việt Nam giải quyết thành công nút thắt bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, phá vỡ thế cô lập, mà còn tạo tiền đề vững chắc cho tiến trình hội nhập quốc tế rộng mở của đất nước về sau.
3. Tầm nhìn đổi mới về ngoại giao kinh tế, xây dựng ngành và di sản cho hậu thế
Một trong những đóng góp mang tính tiên phong, vượt thời gian của đồng chí Nguyễn Cơ Thạch chính là việc xác lập tư duy “Ngoại giao phục vụ kinh tế”. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đồng chí đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế của đất nước khi chưa kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh kinh tế và khoa học kỹ thuật của thời đại. Đồng chí mạnh dạn định hướng ngành ngoại giao phải trở thành một mũi nhọn hỗ trợ đắc lực cho công cuộc Đổi mới, dùng công tác đối ngoại để thu hút nguồn lực nước ngoài, phá bỏ cấm vận kinh tế và phục vụ mục tiêu tối cao là phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Bên cạnh tư duy kinh tế sắc bén, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch còn được coi là người đặt nền móng hiện đại hóa ngành ngoại giao Việt Nam. Nhìn nhận thế giới là một thực thể biến động khôn lường, đồng chí yêu cầu công tác xây dựng ngành phải có tầm quan trọng ngang hàng với nhiệm vụ chính trị. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí, Bộ Ngoại giao đã đi sâu vào bốn nội dung cốt lõi: cải tiến phương thức chỉ đạo, củng cố đơn vị cơ sở, tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và đào tạo thế hệ kế cận. Sáng kiến xây dựng Quy chế Tập sự cấp Vụ và Quy chế Tập sự cấp Bộ của đồng chí chính là chiếc nôi rèn luyện, sàng lọc nên những thế hệ nhà ngoại giao bản lĩnh, tài năng cho đất nước, một mô hình mẫu mực vẫn được kế thừa và áp dụng hiệu quả cho tới ngày nay.
Sau khi rời cương vị quản lý vào năm 1991, đồng chí tiếp tục cống hiến trí tuệ cho Đảng và Nhà nước với vai trò thành viên Ban Tư vấn của Bộ Chính trị. Bằng tinh thần tự học phi thường - từ việc tự thông thạo tiếng Anh để nghiên cứu tư liệu đến việc đào sâu các lý thuyết kinh tế hiện đại - đồng chí đã hoàn thành công trình khoa học đồ sộ: "Thế giới 50 năm qua (1945-1995) và thế giới 25 năm tới (1996- 2020)". Cuốn sách chứa đựng những dự báo thiên tài về xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ và tầm quan trọng của vị thế kinh tế quốc gia. Ghi nhận những công lao vĩ đại này, Đảng và Nhà nước đã trân trọng trao tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng cao quý.
Cuộc đời hơn 60 năm hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Cơ Thạch mãi là tấm gương sáng ngời về một nhân cách lớn, một nhà ngoại giao kiệt xuất, người đã cống hiến trọn vẹn trái tim và khối óc cho độc lập, tự do và sự phồn vinh của Tổ quốc./.
Tư liệu
- Từ khóa:
- Nguyễn Cơ Thạch
- Phạm Văn Cương

