Thực thi Hiệp định Paris

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, bối cảnh quốc tế và trong nước có những nét mới. Trước hết, về Hoa Kỳ, tình hình nước này tiếp tục khó khăn. Kinh tế của Hoa Kỳ lâm vào cuộc khủng hoảng mới; khủng hoảng về chính trị do vụ bê bối Watergate. Tổng thống Richard Nixon buộc phải từ chức (ngày 9/8/1974), gây rối loạn về quyền lực và khủng hoảng niềm tin. Chính trường Mỹ trải qua thời kỳ sóng gió. Mục tiêu của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là duy trì nguyên trạng, củng cố chính quyền Sài Gòn, dùng đòn bẩy kinh tế đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để kiềm chế cả miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn âm mưu xóa ngay Hiệp định, chiếm đất, giành dân, tiếp tục chiến tranh hòng kéo đế quốc Mỹ tiếp tục viện trợ.

Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (tháng 7/1973) xác định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao một cách chủ động, linh hoạt, buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên phản công để giành thắng lợi hoàn toàn.

Thi hành Hiệp định Paris, kết hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, chúng ta đã tiến hành các hoạt động ngoại giao sau đây:

1. Cùng Hoa Kỳ triệu tập và đồng chủ trì Hội nghị quốc tế về Việt Nam, tại Paris ký kết Định ước xác nhận và cam kết tôn trọng các văn bản của Hiệp định Paris, tăng thêm giá trị pháp lý của Hiệp định và vị trí của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời.

2. Mở các diễn đàn, tiếp tục “vừa đánh vừa đàm”:

a) Diễn đàn Ban liên hợp quân sự bốn bên và hai bên tại sân bay Tân Sơn Nhất. Chúng ta tập trung đấu tranh buộc đế quốc Mỹ rút hết quân đúng theo Hiệp định. Ngày 29/3/1973, người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Đồng thời, chúng ta còn đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn thực hiện ngừng bắn và trao trả những người bị giam giữ;

b) Diễn đàn hai bên miền Nam Việt Nam họp tại La Celle Saint Cloud, Paris (Pháp). Tại diễn đàn này, chủ yếu là đấu tranh dư luận. Ngày 25/4/1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra đề nghị tổng quát 6 điểm giải quyết vấn đề nội bộ miền Nam (triệt để ngừng bắn; trao trả hết tù dân sự còn bị giam giữ; đảm bảo các quyền tự do dân chủ; thành lập Hội đồng Hòa giải, hòa hợp dân tộc; tổ chức tổng tuyển cử tự do, dân chủ, thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam). Trước thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn, ngày 28/6/1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tập trung tiến công vào 3 vấn đề cấp bách là thực hiện ngừng bắn; trao trả hết nhân viên dân sự bị bắt; thực hiện tự do dân chủ. Ngày 18/7/1973, chúng ta tăng sức ép đối với chính quyền Sài Gòn khi đưa ra dự thảo “Những quy định đảm bảo các quyền tự do, dân chủ”.

c) Diễn đàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hoa Kỳ. Hai bên đã tiến hành các cuộc họp Ủy ban kinh tế hỗn hợp để bàn việc thực hiện Điều 21 về đế quốc Mỹ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam. Các cuộc họp kéo dài mà không có kết quả. Ngoài ra, còn có cuộc gặp cấp cao trong tháng 5 và 6/1973 đưa đến việc bốn bên tham dự Hội nghị Paris cùng ký Thông cáo chung ngày 13/6/1973.

3. Đấu tranh đòi đế quốc Mỹ chấm dứt dính líu quân sự. Chúng ta tập trung lên án Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và đòi Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự cho Sài Gòn. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng vì trước mắt là làm suy yếu chính quyền Sài Gòn khi chính quyền này trên thực tế là sống nhờ viện trợ của đế quốc Mỹ; và về lâu dài là ngăn chặn đế quốc Mỹ quay lại can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Do sức ép của số đông, Quốc hội Hoa Kỳ buộc phải cắt giảm viện trợ cho chính quyền Sài Gòn.

4. Tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới. Sau khi ký Hiệp định Paris, chúng ta vận động hướng phong trào vào ủng hộ Việt Nam, đòi Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định, lên án việc chính quyền Sài Gòn phá hoại ngừng bắn, không trao trả tù chính trị. Chúng ta khai thác những nhân tố tích cực của tình hình thế giới, phát huy tác dụng của phong trào trong tình hình mới và hạn chế mặt tiêu cực của dư luận cho rằng chiến tranh đã chấm dứt, không cần ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam như trước.

Bộ Chính trị họp (từ ngày 30/9 đến ngày 8/10/1974) cho rằng “đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng...”. Đồng thời, Bộ Chính trị đã thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm (1975-1976). Tiếp đó, Bộ Chính trị họp mở rộng (từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975) và quyết định: phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975, là một khả năng hiện thực. Thực hiện quyết tâm chiến lược mới, chúng ta tiến hành hàng loạt các biện pháp ngoại giao nhằm tấn công địch và chuẩn bị dư luận từng bước:

a) Trước hết, nhiệm vụ tối quan trọng hàng đầu là cùng với tình báo và theo dõi động thái ở chiến trường, xác định cho được khả năng liệu đế quốc Mỹ có quay lại can thiệp quân sự trực tiếp hay không khi chúng ta đánh lớn. Ngoại giao tập trung lực lượng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

b) Tiếp đến là, kết thúc cục diện vừa đánh vừa đàm. Do thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn, Diễn đàn hai bên miền Nam ở Paris đã ngừng hoạt động từ tháng 4/1974 và đến ngày 25/8/1974, chúng ta nhân đó đã cắt hẳn. Diễn đàn Việt - Mỹ sau thông điệp cuối ngày 25/8/1974 cũng ngừng, song ta không chủ động cắt cầu hẳn.

c) Về đấu tranh dư luận, chúng ta đưa ra hai đòi hỏi cấp bách mới: đế quốc Mỹ chấm dứt mọi can thiệp và dính líu và thay Thiệu cùng phe cánh bằng một chính quyền Sài Gòn tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc và thi hành Hiệp định. Ngày 21/3/1975, chúng ta bổ sung “tán thành độc lập và dân chủ”. Với những Tuyên bố này, chúng ta đã khóa chặt vấn đề ngừng bắn, cột chặt thêm vấn đề chính quyền, đồng thời cũng nhằm tố cáo và cô lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

d) Ngăn chặn những mưu toan cuối cùng của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn. Ngày 18/4/1975, Tổng thống Gerald Ford ra lệnh sơ tán người Mỹ khỏi Sài Gòn và nhờ Liên Xô nói với Việt Nam tạo điều kiện. Chúng ta đồng ý. Trần Văn Hương (thay Nguyễn Văn Thiệu), Hoa Kỳ, kể cả lực lượng thứ ba bằng nhiều con đường khác nhau, muốn tiếp xúc, thương lượng nhằm ngăn cản chúng ta giải phóng Sài Gòn. Chúng ta đều từ chối. Chỉ tiếp lực lượng thứ ba với tư cách cá nhân. Ngày 26/4/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố: “Xóa bỏ hoàn toàn bộ máy ngụy quyền và bộ máy chiến tranh, kìm kẹp của nó”, đồng thời kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí để bớt đổ máu và thương vong cho nhân dân”. Ngày 30/4/1975, Sài Gòn được giải phóng, non sông thu về một mối, trong chiến thắng lịch sử trên có đóng góp to lớn của mặt trận ngoại giao.