Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày (Phần 3)

Hà Nội (TTXVN 23/10/2023) Sáng 23/10/2023, tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024.

Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo (Phần 3):

4. Về xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách được chú trọng, có nhiều đổi mới trong chỉ đạo, cách làm. Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, từ sớm, từ xa với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trong 9 tháng đã tổ chức 08 phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật; Quốc hội thông qua 08 Luật, 03 Nghị quyết quy phạm pháp luật, cho ý kiến 09 dự án Luật và dự kiến sẽ xem xét, thông qua 09 luật, 01 Nghị quyết, cho ý kiến 07 dự án luật tại Kỳ họp này. Chính phủ đã ban hành 68 Nghị định, 193 Nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 26 quyết định quy phạm pháp luật và nhiều quyết định cá biệt[1]. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước được triển khai quyết liệt, có hiệu quả; trong đó tập trung cắt giảm, đơn giản hóa, phân cấp giải quyết thủ tục hành chính[2]. Xếp hạng môi trường kinh doanh Việt Nam tăng 12 bậc[3].

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy[4]; chấn chỉnh tình trạng cán bộ, công chức đùn đẩy, sợ trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ, đã ban hành Nghị định của Chính phủ về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung[5]. Công tác kiểm tra, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh[6]; góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

5. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững[7]. Tiếp tục đầu tư nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh. Tập trung trấn áp, kiềm chế gia tăng tội phạm; quyết liệt chỉ đạo triển khai các giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém trong phòng, chống cháy nổ, an toàn giao thông. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai sôi động, liên tục[8] và là điểm sáng nổi bật của năm 2023, đạt nhiều thành tựu quan trọng có tính lịch sử, tạo thời cơ, vận hội mới, để phát triển đất nước và nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và nhiều nước G20[9]; góp phần duy trì được môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

IV. TỒN TẠI, HẠN CHẾ

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản; nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục tập trung nỗ lực khắc phục. Tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra[10].  Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ bên ngoài. Sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn; số doanh nghiệp giải thể, phá sản tăng cao[11], tình trạng doanh nghiệp thiếu đơn hàng diễn ra phổ biến; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Sản xuất trong nước còn phụ thuộc nhiều vào nguyên, vật liệu nhập khẩu; nhu cầu thị trường trong nước bị thu hẹp, xuất khẩu sang các thị trường chủ lực đều giảm so với cùng kỳ; xuất siêu tăng chủ yếu do nhập khẩu nguyên liệu đầu vào giảm.

Tiếp cận tín dụng còn khó khăn, tăng trưởng tín dụng thấp, nợ xấu có xu hướng tăng[12]. Các cơ chế, chính sách về đất đai, bất động sản, nhà ở, đầu tư công đang là điểm nghẽn; các thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp còn tiềm ẩn rủi ro; việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, dự án tồn đọng còn lại gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có việc phải đánh giá, thẩm định chính xác giá trị tài sản đã qua nhiều năm; du lịch quốc tế phục hồi chậm.

Việc triển khai một số nội dung thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội còn chậm. Một số cơ chế, chính sách pháp luật chậm được sửa đổi, còn mâu thuẫn, chồng chéo, áp dụng thiếu thống nhất; cắt giảm thủ tục hành chính có lúc, có nơi còn chậm, chưa kịp thời, quyết liệt; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; sắp xếp, kiện toàn bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian còn một số bất cập.

Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn; số lao động mất việc làm, giảm giờ làm, rút bảo hiểm xã hội một lần gia tăng cục bộ; lao động khu vực phi chính thức còn lớn; tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên còn cao[13]. Tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế chưa được khắc phục triệt để. Nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo còn hạn chế; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, cải cách sách giáo khoa chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác thanh niên, trẻ em còn tồn tại một số vấn đề cần được quan tâm tháo gỡ. Chất lượng nguồn nhân lực chuyển biến chưa rõ nét; nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế.

An ninh, trật tự an toàn xã hội, tội phạm ở một số địa bàn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm mạng; còn để xảy ra một số vụ việc cháy nổ, tai nạn giao thông nghiêm trọng. Dịch bệnh, thiên tai, hạn hán, bão lũ, thời tiết cực đoan, sạt lở đất, bờ sông, bờ biển tiếp tục diễn biến khó lường, gây hậu quả nặng nề[14].

V. NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, vượt quá khả năng dự báo; trong khi nước ta là nước đang phát triển, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, xuất phát điểm thấp, quy mô còn khiêm tốn, độ mở lớn, sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài và khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Công tác nắm bắt, dự báo tình hình có lúc còn chưa sát, việc tham mưu, phản ứng chính sách trong một số trường hợp còn bị động; tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách vẫn là khâu yếu; một bộ phận cán bộ còn có tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ thuộc thẩm quyền; việc phân cấp, phân quyền một số lĩnh vực còn vướng mắc về thể chế, nhất là đối với những vấn đề phát sinh mới.

2. Bài học kinh nghiệm (có 5 bài học kinh nghiệm)

(1) Cần quán triệt, nghiêm túc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và có sự vào cuộc với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

(2) Nắm chắc tình hình thực tiễn, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên, quyết tâm cao, đổi mới sáng tạo; khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài.

(3) Cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; chỉ đạo điều hành đồng bộ, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách, xác định rõ ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm.

(4) Giữ vững kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

(5) Lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất, là động lực và mục tiêu của sự phát triển; chú trọng ưu tiên bố trí nguồn lực cho phát triển văn hóa, xã hội; đẩy mạnh truyền thông chính sách, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong Nhân dân.

Trong đó, lưu ý kinh nghiệm quan trọng là: Phải đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.Nắm chắc tình hình trong và ngoài nước, phản ứng chính sách chủ động, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả về những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm.

VI. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2023

Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu); tận dụng tốt cơ hội thị trường trong nước, quốc tế dịp cuối năm, lễ, Tết; tất cả các bộ, ngành, địa phương nỗ lực vượt qua khó khăn, thúc đẩy phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy nhanh tiến độ phê duyệt quy hoạch và giải ngân vốn đầu tư công, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia. Tích cực phục hồi, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là điện, xăng, dầu và ổn định thị trường, giá cả; nắm chắc tình hình, làm tốt công tác an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm đời sống cho người lao động, Nhân dân, nhất là trong dịp Tết. Bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh hội nhập quốc tế; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền; nỗ lực phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2023, trong đó tăng trưởng GDP đạt trên 5%, lạm phát khoảng 3,5-4%. 

(còn tiếp)

[1] Tính chung từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Quốc hội đã thông qua 34 văn bản pháp luật; cho ý kiến đối với 26 dự án, dự thảo; đồng thời quyết nghị nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về đất đai, y tế, đấu thầu, đầu tư, quy hoạch, xuất nhập cảnh…; Chính phủ đã tổ chức 20 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật, ban hành 264 nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 71 quyết định quy phạm và 3.992 quyết định cá biệt.

[2] Từ đầu năm đến nay đã cắt giảm, đơn giản hóa 338 quy định kinh doanh, đơn giản hóa 388 thủ tục hành chính, phân cấp 156 thủ tục hành chính.

[3] Theo Báo cáo môi trường kinh doanh toàn cầu tháng 5/2023 của Economist Intelligence Unit (EIU).

[4] Từng bước hoàn thiện bộ máy bên trong của các bộ, ngành theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm cơ cấu hợp lý, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức. Đến nay, đã ban hành 26 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; giảm được 17 tổng cục và tổ chức tương đương, giảm 08 cục thuộc tổng cục và thuộc Bộ, giảm 145 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc Bộ, giảm 711 tổ chức phòng thuộc cơ quan chuyên môn UBND cấp tỉnh và cấp huyện, giảm 2.159 tổ chức phòng và tương đương tại 63 tỉnh, thành phố.

[5] Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ.

[6] Tập trung điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc theo thẩm quyền và do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực chỉ đạo, theo dõi. Ban hành Chỉ thị số 26-CT/TTg ngày 20/10/2023 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ. Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở; tập trung thanh tra các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các tập thể, cá nhân vi phạm. Trong 9 tháng năm 2023, toàn ngành Thanh tra đã triển khai trên 7,1 nghìn cuộc thanh tra hành chính (giảm 6,2% và ban hành trên 4 nghìn kết luận thanh tra) và gần 147 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; phát hiện vi phạm về kinh tế gần 199 nghìn tỷ đồng, 495 ha đất; kiến nghị thu hồi gần 156 nghìn tỷ đồng, 56 ha đất; ban hành gần 95 nghìn quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền gần 4,5 nghìn tỷ đồng; xem xét, xử lý hành chính 1.193 tập thể và 4.732 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra tiếp tục xem xét, xử lý 279 vụ, 363 đối tượng.

[7] Trong đó, đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, kinh tế, thông tin, an ninh mạng.

[8] Từ đầu năm đến nay, đã tổ chức triển khai 15 chuyến thăm nước ngoài của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt; đón 20 đoàn lãnh đạo cấp cao quốc tế thăm Việt Nam.

[9] Trong tháng 7/2023, đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với Israel, nâng tổng số lên 16 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn.

[10] Tăng trưởng kinh tế và một số chỉ tiêu kế hoạch năm 2023 chưa đạt mục tiêu đề ra; GDP 9 tháng tăng 4,24%, ước cả năm 2023 tăng trên 5%; 5 chỉ tiêu dự kiến không đạt kế hoạch gồm: tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội.

[11] Trong 9 tháng năm 2023 có tổng số 135 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giải thể (thấp hơn tổng số 165,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động).

[12] Tăng trưởng tín dụng đến 11/10/2023 đạt 6,29% so với cuối năm 2022 (cùng kỳ tăng 11,12%). Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến hết tháng 6 là 3,36%, cao hơn mục tiêu kiểm soát đề ra (đến cuối năm 2025 là dưới 3%).

[13] Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý III/2023 là 7,86%; trong đó tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,35%; khu vực nông thôn là 6,60%. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn là 13,5%, khu vực thành thị là 9,8%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 13,9%; nam là 10,4%.

[14] Từ đầu năm 2023 đến nay, thiên tai đã làm 121 người chết và mất tích, thiệt hại tài sản gần 6 nghìn tỷ đồng (gấp 1,08 lần cùng kỳ).


Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày

Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày(Phần 2)

Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày (Phần 4)

Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày (Phần 5)

Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trình bày (Phần 6)