8 Danh nhân của Việt Nam được UNESCO vinh danh

      Nhân vật liên quan

      • Chủ tịch Đảng (2/1951 - 9/1969); Tổng Bí thư (10/1956 - 9/1960)Hồ Chí Minh
      • Đại thi hàoNguyễn Du
      • Nhà giáoChu Văn An
      • Danh nhânNguyễn Đình Chiểu
      • Nữ sĩHồ Xuân Hương
      • Đại danh yLê Hữu Trác
      • Nhà văn hóa, nhà thơLê Quý Đôn
Hà Nội (TTXVN 4/11/2025) Tại Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), ngày 31/10/2025, đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Khu lưu niệm Nhà bác học Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Như vậy, đến nay, UNESCO đã thông qua nghị quyết vinh danh và cùng kỷ niệm năm sinh/năm mất của 8 Danh nhân Việt Nam: 600 năm Ngày sinh Nguyễn Trãi (1980); 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990); 250 năm Ngày sinh thi hào Nguyễn Du (2015); 650 năm Ngày mất Nhà giáo Chu Văn An (2019); 200 năm Ngày sinh của Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu (2021); 250 năm Ngày sinh, 200 năm Ngày mất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (2021); 300 năm Ngày sinh của Danh y Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (2023) và 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (2025).

* Nguyễn Trãi - Danh nhân văn hóa thế giới, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị thiên tài (1980)

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long. Thân phụ ông là Nguyễn Phi Khanh và thân mẫu là Trần Thị Thái, con gái của quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán.

Nguyễn Trãi sớm nổi tiếng về tài đức và chí lớn. Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh, năm sau ra nhận chức Ngự sử đài chánh trưởng dưới triều Hồ. Từ năm 1407, giặc Minh đô hộ nước ta. Nuôi ý chí cứu nước, cứu dân, ông đến Lam Sơn tụ nghĩa, dâng Bình Ngô sách, dốc tâm huyết, một lòng thành giúp Bình Định vương Lê Lợi. Ông trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, giải phóng đất nước ở thế kỷ XV. Kháng chiến thắng lợi, Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô Đại cáo” - một áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Điểm cốt lõi mà “Bình Ngô đại cáo” thể hiện chính là lý tưởng “nhân nghĩa” mà nhân dân ta mãi mãi ngợi ca và hướng tới:

         “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”
          Quân điếu phạt trước lo trừ bạo".

Đất nước hòa bình, với ước vọng tham gia “Duy tân đất nước, xây dựng nền thái bình muôn thuở…”, Nguyễn Trãi tiếp tục hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội dưới Triều Lê; có công lớn trong việc tạo ra nền tảng kinh tế-xã hội, sự hòa hợp giữa “Nước và Dân” - nguồn lực xây dựng đất nước Đại Việt vững mạnh đương thời. Nguyễn Trãi đã đi vào lịch sử và trở thành Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.

* Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất (1990)

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hành trình không ngừng nghỉ vì mục tiêu độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. “Nước” và “Dân” là lẽ sống, là điểm tựa và cũng là đích đến cuối cùng của mọi tư tưởng, hành động của Người: từ buổi ra đi tìm đường cứu nước, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam mới, đến việc lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ giành thắng lợi vẻ vang. Vì nước, Người đã hiến dâng tất cả, trí tuệ, sức lực và cả cuộc đời mình, để đưa dân tộc Việt Nam từ bóng tối nô lệ đến độc lập, tự do; từ chia cắt đến thống nhất và phát triển.

Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật, những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh truyền thống văn hóa của Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Như lãnh tụ Cuba Fidel Castro đã ca ngợi: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”. Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở nên quen thuộc, gần gũi và được kính trọng đối với hàng triệu triệu người khắp nơi trên thế giới, được trân trọng ghi vào các bộ đại bách khoa, các bộ từ điển danh nhân lỗi lạc của thế giới. 

Với tấm lòng yêu mến và kính trọng sâu sắc đối với Người, nhiều quốc gia trên thế giới đã lấy tên của Người đặt cho các quảng trường, đại lộ, nhà trẻ, trường học...; đã dựng phù điêu, tượng đài của Người trên quảng trường và trên các đường phố lớn.

* Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc (2015)

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ra trong một gia đình khoa bảng nổi danh ở tỉnh Hà Tĩnh. Với khả năng thiên bẩm và truyền thống gia đình đã giúp tài năng văn học của ông có điều kiện nảy nở và phát triển từ sớm.

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du trải dài suốt cuộc đời, rất phong phú và đồ sộ, gồm 3 tập thơ chính bằng chữ Hán: "Thanh Hiên thi tập", "Bắc hành tạp lục", "Nam trung tạp ngâm" với gần 250 bài và nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm, trong đó xuất sắc nhất là “Truyện Kiều”.

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. "Truyện Kiều" đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, Mông Cổ, Ả Rập, Nga...) với trên 60 bản dịch khác nhau. Tại mỗi quốc gia, tác phẩm để đời này đều được đón tiếp nồng nhiệt và đều có một đời sống riêng. “Truyện Kiều” đã tôn vinh vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc, vẻ đẹp của thơ ca, của cốt cách và tâm hồn Việt Nam, khẳng định vị trí số một của Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc và từng bước chiếm lĩnh văn đàn thế giới như một trong những nhà thơ vĩ đại nhất.

* Chu Văn An - "Người thầy của muôn đời" (2019)

Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, tự là Linh Triệt, quê ở Hà Nội.

Chu Văn An đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới các thế hệ người Việt Nam mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.

Là người chính trực, không màng danh lợi, nên khi thi đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ) vào đời Trần Minh Tông (1314-1329), ông không ra làm quan mà trở về quê nhà mở trường dạy học - trường Huỳnh Cung. Trong số môn đệ của ông, có nhiều người thành đạt, làm quan lớn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát - cả hai đều đỗ Thái học sinh và làm đến chức Hành khiển trong triều Trần. Họ không chỉ được ông dạy chữ thánh hiền mà còn được dạy về đạo đức của bậc trí nhân quân tử.

Sau này ông được vua Trần Minh Tông mời đến Thăng Long giữ chức Tư nghiệp (tức Hiệu trưởng) tại Quốc Tử Giám.

Chọn nghề giáo, nhưng Chu Văn An không sống lẩn tránh, quay lưng lại thời cuộc như đa số các văn sĩ thời bấy giờ. Ông nhập thế với ý thức của một trí thức Nho giáo rất rõ ràng, chỉ có điều bằng con đường riêng của mình - con đường dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước.

Nhân cách nhà giáo Chu Văn An đã được lưu truyền trong sử sách Việt Nam từ đời này qua đời khác. Ngày nay, tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhiều nơi trong nước có di tích thờ phụng ông.

* Nguyễn Đình Chiểu – chí sĩ yêu nước, nhà thơ lớn của dân tộc (2021)

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu hay còn gọi là Cụ đồ Chiểu, tự là Mạch Trạch, Hiệu Trọng Phủ Hối Trai.

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu có vị trí danh dự, là một nhà văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Triết lý văn hóa của Nguyễn Đình Chiểu là triết lý nhân sinh. Triết lý ấy thể hiện trong bài "Than đạo":

          Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
           Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Dù bản thân mù lòa nhưng ông lại có một trái tim "sáng chói", nhìn rõ hết mọi việc của thế nhân, ông kiên quyết chống lại những thế lực đen tối bằng chính ngòi bút tài hoa, với những câu chuyện mang đậm tính nhân văn.

Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu để đời có truyện thơ Nôm: "Lục Vân Tiên", "Dương Từ - Hà Mậu", "Ngư tiều y thuật vấn đáp". Các tác phẩm thơ lẻ, văn tế: "Chạy giặc", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Văn điếu Trương Định", "Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong"… Trong đó “Lục Vân Tiên”, là một tác phẩm đầu tay chứa đựng triết lý, trọng đạo nghĩa, tiết tháo làm người.

Còn tác phẩm “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” đã đưa ông lên vị trí người mở đầu cho dòng văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX. Khác các tác giả trước đó, Nguyễn Đình Chiểu đã nhìn thấy sức mạnh to lớn của những người nông dân trong chống giặc xâm lược. Nguyễn Đình Chiểu là người đầu tiên dùng văn chương tạc vào lịch sử chân dung những người nông dân - nghĩa binh, những tướng lĩnh đánh giặc.

Ông còn là thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu tận hiến cứu người, giúp đời bằng nghề thuốc của mình. Tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” là một tập hợp phong phú nhiều bài thuốc mà ông đã dày công tổng hợp, học hỏi và nghiên cứu, để lại giá trị cho muôn đời sau.

* Hồ Xuân Hương - “Bà Chúa thơ Nôm” (2021)

“Bà Chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ nổi tiếng và tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX.

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo của Văn học Việt Nam. Bà đã viết những điều mà các nhà thơ khác cùng thời không dám viết. Thơ Hồ Xuân Hương độc đáo, hiếm có và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, có sức lan truyền, lan tỏa rộng rãi trên thế giới.

Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một tư tưởng nhân văn, nhân bản mang tính nhân loại sâu sắc với hạt nhân là đấu tranh đòi quyền sống, quyền yêu đương, hạnh phúc cho con người, trước hết là người phụ nữ. Con người trong thơ bà là con người với tư cách là những thực thể tồn tại trên mặt đất với mọi nhu cầu trần thế, nhu cầu hiện sinh chính đáng. Có thể nói tiếng nói vang dội nhất trong thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói đấu tranh đòi nữ quyền (quyền bình đẳng, quyền được yêu thương, hạnh phúc, quyền được công khai hiện diện trong cuộc sống) với tất cả những gì mà tạo hóa ban cho họ. Điều này được thể hiện trong các bài thơ của bà như "Bánh trôi nước", "Thiếu nữ ngủ ngày", "Đèo Ba Dội", "Động Hương Tích," "Vịnh cái quạt", "Dệt cửi" ,"Đánh đu". Song song với tiếng nói đánh thức, khơi gợi diệu kỳ khó ai có thể làm được ấy là tiếng nói phê phán mạnh mẽ các thế lực (chế độ phong kiến, giáo lý Nho giáo, các giới, loại người “phàm phu, tục tử”) đã tạo ra những ràng buộc vô lý đối với con người, tạo ra sự bất bình đẳng giới giữa nam và nữ, tạo ra những lề thói, hủ tục cản trở sự tiến bộ, thể hiện rõ trong "Lấy chồng chung", "Không chồng mà chửa", "Thân phận người đàn bà".

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương không chỉ được đánh giá cao ở trong nước, thơ của bà được dịch ra 13 thứ tiếng khác nhau trên thế giới, trong đó tiếng Việt qua thơ Hồ Xuân Hương là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật đa nghĩa, nhiều hàm ý, sắc sảo, độc đáo và tài hoa, đầy thách thức đối với các “tài tử," “văn nhân” đương đại khi chuyển ngữ, dịch thơ bà sang tiếng nước mình.

* Lê Hữu Trác - “Y thánh của Việt Nam” (2023)

Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-1791) không chỉ là một nhà y dược học lớn mà còn là nhà thơ, nhà văn xuất sắc, nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần nhân đạo sâu sắc.

Là con của Tiến sĩ Thị lang Bộ Công triều, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sớm được theo cha học tập ở kinh thành Thăng Long và nổi tiếng là cậu học trò thông minh, toàn diện. Lê Hữu Trác từng thi đậu Tam trường, rồi theo học binh thư và được sung vào quân đội chúa Trịnh. Ông là người quyết đoán, thẳng thắn, cương trực nhưng cũng rất hiền từ, là người có chí khí thanh cao nên khi chứng kiến những rối ren, ngang trái của xã hội, ông viện cớ anh trai mất và phải nuôi mẹ, ông xin về quê mẹ ở ẩn.

Thấy Lê Hữu Trác là người sáng dạ, lại có duyên với nghề y dược, lương y Trần Lộc đã truyền nghề cho ông. Nhận ra nghề y không chỉ có ích cho mình mà còn có thể giúp đời, giúp người, nên ông quyết chí theo học thuốc. Ông lấy hiệu danh là Hải Thượng Lãn Ông.

Hải Thượng Lãn Ông không chỉ lo cứu người mà ông còn luôn lo nghĩ tới việc viết sách để truyền bá y học Việt Nam đã được các bậc tiên y xây dựng từ trước và bản thân ông đã dày công đào tạo những thế hệ thày thuốc Việt Nam có đạo đức và y thuật, đủ khả năng bảo vệ sức khỏe cho dân tộc. Sự nghiệp y dược nổi tiếng của Hải Thượng Lãn Ông được tập hợp trong bộ “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh”, gồm 28 tập, 66 quyển, đề cập từ nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, thương khoa, truyền nhiễm, cấp cứu đến y đức, vệ sinh phòng bệnh, phương pháp nuôi dưỡng, thậm chí cả chế biến các món ăn dưỡng bệnh... Có thể nói “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” là tinh hoa của y học nhân loại và y dược cổ truyền Việt Nam.

Không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại. Ông sáng tác rất nhiều bài ca, lời lẽ giản dị, rõ ràng, để người dân có thể hiểu được, nhớ được về y học dân tộc, như: các bài ca về bào chế thuốc trong “Lĩnh Nam bản thảo”, các bài ca về vệ sinh trong “Vệ sinh yếu quyết diễn ca”, các bài ca về cách xem xét ngũ tạng và các mạch ở tay chân trong “Y gia quan miên”…

* Lê Quý Đôn - nhà bác học lớn (2025)

Danh nhân Lê Quý Đôn (1726-1784) lúc nhỏ tên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Ông là con cả của tiến sĩ Lê Phú Thứ - người từng làm đến chức Hình bộ Thượng thư. Mẹ ông là con gái một tiến sĩ từng trải qua nhiều chức quan.

Từ nhỏ, Lê Quý Đôn nổi tiếng là thần đồng ham học, thông minh, có trí nhớ siêu đẳng. 17 tuổi Lê Quý Đôn đi thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi ông đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn (do khoa thi này không lấy Trạng nguyên). Sau khi đã đỗ đạt, ông được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê-Trịnh.

Sinh thời, nhà bác học Lê Quý Đôn được mệnh danh là “túi khôn của thời đại”. Ông được người đời ca tụng: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn”, có nghĩa là mọi người trong thiên hạ ai không hiểu việc gì, muốn hỏi thì gặp Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Câu nói đó đã nói lên tầm vóc của nhà bác học thiên tài của Đại Việt thời phong kiến. Ham hiểu biết, thích sưu tầm lại có một trí nhớ siêu việt… đó chính là những yếu tố giúp ông trở thành danh nhân đất Việt. Ông đã có những cống hiến trên nhiều lĩnh vực, như: triết học, sử học, nông học, thiên văn học… Mỗi cống hiến của ông lại mang đến giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục cũng như nhân văn cho mọi thế hệ.

Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, sử gia Phan Huy Chú đã nhận xét: “Lê Quý Ðôn tư chất khác đời, thông minh hơn người... Bình sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi; mà nói đến điển cố thì đầy đủ, rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời”.

Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế khoảng 40 bộ sách bao quát hầu hết các tri thức đương thời. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu: Về văn học có bộ sưu tầm “Toàn Việt thi lục”; tập thơ "Quế đường thi tập” rất nổi tiếng". Về sử học có “Đại Việt thông sử”, “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tạp lục”, “Bắc sử thông lục”. Về triết học có “Thư kinh diễn nghĩa”, “Dịch kinh phu thuyết”, “Xuân thu lược luận”, “Quân thư Khảo biện”. Về kinh tế và nông học có bộ “Vân đài loại ngữ” rất đồ sộ.../.

Phương Ninh (tổng hợp)